Thức ăn bổ dưỡng và nhuận trường
Quả Mơ (Apricot)
Viên Đinh Trần Ken sưu tầm
email: Giang Ngoc Tran
Đặc tính của quả mơ
Quả Mơ còn gọi là:
apricot trong tiếng Anh, abricot theo tiếng Pháp, xìng zi trong
tiếng Bắc Kinh (tiếng Phổ Thông Trung Quốc), anzu trong tiếng Nhật.
Cả người Nhật lẫn người Hoa đều viết tên gọi này cùng một dạng Hán
tự, phát âm theo lối Hán Việt là hạnh tử. Quả Mơ có tên khoa học là
Prunus armeniaca, thuộc họ Rosaceae.
Quả mơ là một thứ trái cây dồi dào chất dinh dưỡng, chất chống
oxi-hoá, Vitamin A, B và C, cùng các chất khoáng gồm có can-xi,
ma-nhê, pô-tat và chất sắt. Quả mơ khô chứa nhiều chất sắt hơn quả
tươi; vitamin C có trong quả mơ có tác dụng giúp cơ thể hấp thụ chất
sắt nhiều hơn. Vì loại trái cây này dễ tiêu, nên nuớc cốt trái cây
này tốt cho những người suy nhược về thể chất hay tinh thần, kém sức
khoẻ hoặc có tâm trạng căng thẳng. Chất can-xi, ma-nhê và pô-tat đều
rất cần thiết cho hệ thần kinh và cơ bắp, giúp chúng hoạt động bình
thường; những chất khoáng này giúp cơ thể khắc phục tâm trạng căng
thẳng.
Quả mơ có nhiều chất xơ nhưng lại tương đối có ít nhiệt lượng
(calories). Vì thế tôi nghĩ quả mơ có thể coi như là thức ăn tốt cho
quý bà quý cô muốn giữ cho thân hình thon gọn hay bất cứ ai muốn sụt
cân. Lượng ca-rô-tê-nô-id (crotenoids) có trong quả mơ rất lớn, cho
nên quả mơ là thức ăn tốt cho da và mắt. Đó là thức ăn rất tốt cho
cơ thể trong việc chống chõi bệnh tật. Quả mơ cũng là một thức ăn
thiên nhiên chống ung thư tuyệt vời.
Quả mơ có chứa chất sa-li-xi-lat (salicylates) cho nên có thể gây dị
ứng cho một số người. Chất phụ-gia lưu-huỳnh dùng để giữ quả mơ khô
trông tươi tốt lâu cũng có thể gây dị ứng. Tốt nhất nên mua loại mơ
khô không có chứa chất lưu huỳnh.
Lai lịch, vùng trồng mơ và mùa mơ
Cây mơ thích hợp với vùng có khí hậu khô ráo và ôn hoà. Cây mơ
có gốc gác ở miền Trung Á hay Đông Á (Miền Hoa Bắc, Mông Cổ. Nay
ở Trung Đông, vùng Địa Trung Hải có trồng rất nhiều cây mơ. Tôi
nghĩ có lẽ Thổ Nhĩ Kỳ là nước trồng rất nhiều mơ, vì tôi thấy
các siêu thị ở Úc thường bán quả mơ khô nhập cảng từ Thổ Nhĩ Kỳ.
Ở Úc và ở Hoa Kỳ, nhất là ở tiểu bang California có trồng mơ.
Người Trung Quốc biết đến quả mơ hơn hai ngàn năm qua rồi. Tướng
quân Lucullus thời Đế Quốc La Mã mang cây mơ từ miền Trung Á về
Châu Âu và trồng trong vườn đầy cây cối của ông sau cuộc Đông
Chinh Châu Á.
Từ thuở xa xưa người ta đã biết tới loại trái cây này. Lúc bấy
giờ, loại trái cây này được trân quý như một món ăn thanh tao và
được dùng như môt loại dược liệu trị bịnh đau tai, bịnh mũi do
nhiễm trùng và bịnh trĩ. Vào thế kỷ 16, loại trái cây này được
phổ biến ở nước Anh; người Anh dùng quả mơ như một thứ thức ăn
nhuận trường.
Mùa có nhiều quả mơ là mùa hè; mơ chín rộ vào giữa mùa hè,
khoảng sau lễ Giáng Sinh đến Tết ta ở Úc. Theo sự suy luận của
tôi thì mùa mơ chín rộ vào khoảng cuối tháng Sáu đến tháng Bảy ở
Hoa Kỳ và các nước khác ở Bắc Bán Cầu.
Cách chọn quả mơ ngon
Khi mua quả mơ nên chọn loại quả tròn trịa, vẻ mượt mà (plump,
juicy-looking) lại có màu đỏ ửng hay vàng rộm đều khắp (having a
uniform golden orange color). Những quả mơ như vậy là những quả chín
cây hay hái đúng lúc – vừa chín tới, ăn rất ngon. Tránh mua những
trái mềm nhũn (soft & mushy), vì những trái như vậy thường là những
trái không được tươi, sắp hư thối. Cũng không nên mua những trái còn
cứng có màu tái xanh (greenish), vì đó là những trái hãy còn non.
Những trái có vỏ vàng ệch (pale yellow) không đáng mua ăn vì đó là
những trái chín héo, khi hái chưa chín tới. Loại chín héo ăn không
ngon, dễ ngán.
Công dụng
• Ăn quả mơ ngừa và trị được chứng táo bón, do đó ngừa được các thứ
bịnh về đường ruột kể cả viêm chi nang – nơi ruột già, còn gọi là
viêm túi thừa, viêm khệ thất (divericulitis).
• Vitamin A và C có trong quả mơ có công dụng chống oxi-hoá
(antioxidant) ngừa thương tổn do gốc tự do (free radical) gây ra,
đồng thời chống lại bịnh tim mạch. Hai thứ vitamin này cũng có tác
dụng làm chậm tiến trình lão hoá. Vì vậy, theo thiển kiến, quả mơ
tốt cho quý bà quý cô muốn giữ nét trẻ trung. Quả mơ tốt cho những
bịnh báo hiệu cơ thể trên đà suy yếu như bịnh viêm khớp (arthritis)
chẳng hạn.
• Người ta nghiệm thấy chất bê-ta ca-rô-ten (beta carotene) chứa
trong quả mơ có thể giúp cơ thể chống ung thư phổi và có lẽ cũng
chống được cả ung thư tuyến tuỵ – tuỵ tạng (pancreas), ung thư da,
ung thư thanh quản (larynx) hay bất cứ loại ung thư nào do hút thuốc
lá gây ra. Vì vậy, theo thiển kiến, những ai không chừa được thuốc
lá hay coi hút thuốc lá là một thú vui của cuộc đời thì nên ăn quả
mơ.
• Quả mơ cung ứng chất dinh dưỡng cho hệ thần kinh, do đó loại trái
cây này có thể giúp tăng cường khả năng làm dịu tâm trạng căng
thẳng. Vì vậy quả mơ có thể coi như là liều thuốc dùng để điều trị
bệnh lo âu – hay lo, bồn chồn (anxiety), tinh thần căng thẳng
(tension), bệnh buồn chán, tinh thần sa sút
– đông y gọi là
chứng u uất,
giới truyền thông Việt Nam thường hay gọi
là
bệnh trầm
cảm (depression)
– và bệnh
mất ngủ.
• Quả mơ là thức ăn có giá trị bổ dưỡng, giúp tăng cường sức khoẻ,
cho nên loại trái cây này là thức ăn tuyệt vời cho bất cứ ai cảm
thấy mệt mỏi và suy nhược, và cho cả những người cần ăn bồi thêm
loại thức ăn bổ dưỡng có tính dễ hấp thu, như phụ nữ mang thai, con
nít, và người già cả. Theo thiển kiến, nước sinh tố quả mơ xây hoặc
nuớc cốt quả mơ – tiếng Anh gọi là
apricot nectar, có bán trong siêu thị – cũng tốt cho cả người bịnh
nặng trong thời gian dưỡng bệnh.
Thức uống giúp giữ eo (apple and apricot slimmer):
Thành phần gồm có:
6 quả mơ khô
125ml (4fl oz) nước cốt trái táo (apple juice)
100g (4 oz) sữa chua (natural live yogurt) loại ít chất béo (low
fat)
một tí nhục đậu khấu xây nhiễn (a little freshly ground nutmeg)
Hấp hay chưng quả mơ với một chút nước cho mềm rồi thải bỏ chất
nước. Bỏ quả mơ chung với nước cốt trái táo và sữa chua trong máy
xây sinh tố để xây thành chất lỏng. Sau đó rắc chút nhục đậu khấu
nghiền nhiễn vào nuớc cốt này. Lượng dùng trên đây dành cho một phần
ăn. (Cook the apricots in a little water until soft then drain.
Blend with the apple juice and yogurt and top with a sprinkling of
ground nutmeg. 1 serving)
Thức uống trái cây bổ dưỡng Trung Quốc (Chinese apricot and
grapefruit tonic)
Thành phần gồm có:
4 đến 6 quả mơ khô
2 muổng cà phê mật ong
300ml (1/2 pint) nước cốt trái bưởi
một ít nhục đậu khấu nghiền nhiễn (a sprinkling of ground nutmeg)
Hấp hay chưng quả mơ khô với chút nước vừa đủ ngập quả đến khi mềm
hẳn, rồi thải bỏ nước. Quậy đều trong mật ong khi quả mơ còn nóng.
Cho nước cốt trái bưởi vào làm thành chất lỏng trong máy xây sinh
tố. Rắc chút ít nhục đậu khấu nghiền vào nước cốt này trước khi
uống. Lượng vừa đủ cho một phần. (Cook the apricots in enough water
to cover, until soft. Drain. Stir in the honey while the apricots
are hot. Add the grapefruit juice and liquidize. Sprinkle with
nutmeg before drink. 1 serving)
Thức uống nhuận trường (American papaya and almond dream)
Thành phần gồm có:
6 quả mơ khô hoặc tươi
50g (2 oz) đu đủ tươi hoặc khô
300ml (1/2 pint nuớc cơm sữa – gạo nấu với sữa (rice mil);
có bán trong siêu thị
1 muổng cà phê hạnh nhân xây nhiễn (ground almonds)
một nhúm bột củ gừng hoặc củ gừng tươi mài nhiễn (a pinch of ground
or freshly grated root ginger)
Nếu dùng quả mơ khô thì nấu với chút nước cho mềm rồi đổ bỏ nước đi.
Bỏ ba thứ trên vào máy xây sinh tố, xây cho nhiễn. Rắc chút gừng khi
uống. Lượng này cho một phần ăn. (If using dried apricots, cook them
in a litle water until soft and drain. Place the ingredients
together in a blender and blend until smooth. Serve sprinkled with a
little ginger. 1 serving)
Loại nước cốt này có tính nhuận trường, uống thường xuyên giúp ta đi
cầu trơn tru. Đó là liều thuốc tốt cho những ai bị chứng viêm túi
thừa – viêm chi nang hay còn gọi là viêm khệ thất (diverticulitis).
Theo thiển kiến loại nước uống này cũng tốt cho những ai bị bịnh trĩ
nữa, vì bệnh trĩ là do táo bón lâu ngày mà ra; dứt táo bón thì bệnh
trĩ cũng sẽ lành hẳn.
Kinh nghiệm bản thân
Tôi là loại người hay bị nóng trong mình, tạng người hay bị táo
nhiệt. Từ lúc tuổi thanh niên tôi đã bắt đầu hay bị táo bón. Tôi tìm
mọi cách ăn uống sao cho nhuận trường trong thời kỳ trọ học ở Sài
Gòn. Nào cải xà lách, cà chua, rau muống, nào cam ăn cả xác, nước
cam vắt – có cả xác – uống với mật ong, đu đủ, chuối, v.v..., nhưng
không thấy kết quả mấy. Tôi chỉ thấy cam vắt – có cả xác – trộn với
mật ong là thứ nuớc uống tương đối có hiệu nghiệm hơn về phương diện
nhuận trường trong thời gian đó mà thôi. Có lẽ đời sống học sinh ở
trọ ăn uống kham khổ, không đủ liều lượng chất xơ đúng mức, lại ngồi
nhiều. Sau đó vì táo bón lâu ngày tôi mang bệnh trĩ. Tôi đến trị
bịnh trĩ tại phòng mạch bác sĩ trị bịnh trĩ có tiếng ở Sài Gòn là
Bác sĩ Dương Dậu. Lúc đó tôi không gặp được ông; con trai ông –
người nối dõi nghề của ông – thực hiện tiểu giải phẩu cho tôi, vào
năm 1965 thì phải. Nhưng sau đó bịnh vẫn thường hay tái phát, vì bón
vẫn hoàn bón.
Chín năm đầu khi sống ở Úc, bịnh trĩ thỉnh thoảng vẫn tái phát, nếu
táo bón kéo dài lâu ngày. Tình cờ tôi đọc được một bài báo viết về
bịnh trĩ do một bác sĩ Việt Nam hành nghề bác sĩ ở Úc, dường như là
bác sĩ Trần Thanh Nhơn thì phải. Ông ta viết đại ý như thế này: Muốn
cho dứt bịnh trĩ thì cố gắng đừng để bị táo bón; muốn hết táo bón
thì nên ăn hay uống loại có chất xơ – fibre hay fiber (USA); bột
chất xơ có bán ở các nhà thuốc Tây. Tôi dùng bột chất xơ đó hết hai
hộp lớn, tình trạng đi cầu khả quan. Sau đó tôi xoay qua ăn nhiều
cải luộc có nhiều chất xơ như cải bẹ trắng, cải silver beet, cải
bắp, cải rổ người Bắc gọi là cải làn. Mấy năm gần đây, ở Úc có bán
cải bẹ trắng Thượng Hải; loại cải nầy luộc trong nước luộc gà hay
nấu canh vừa đủ mềm ăn khá ngon. Theo thiển kiến, những ai hay bị
táo bón, ít chịu ăn cải, nên ăn loại cải này thường xuyên; xin nấu
luôn cả cùi cứng gần rễ, vì đó là phần có nhiều chất xơ. Quý vị cao niên nếu
không còn đủ răng tốt để nhai nên nấu nhừ phần bẹ và cùi riêng vì
phần lá không cần nấu nhừ; phần lá nấu nhừ ăn mất ngon. Hơn nữa, nấu
nhừ phần lá sẽ mất đi nhiều chất dinh dưỡng quý báu như diệp lục tố
chẳng hạn.
Cải silver beet luộc trong nước gà luộc đúng cách cũng khá ngon. Đi
nước sôi rồi mới để cải vào luộc. Khi để cải vào nồi nên dùng đũa
gìm cải xuống dưới mặt nước ngay; tránh để cải lú khỏi mặt nước. Nếu
để cải lú khỏi mặt nước, thì phần cải đó sẽ đen vì chất sắt có nhiều
trong loại cải này bị oxi hoá. Khi cải vừa chín mềm vớt ra ăn liền;
nếu để ngoài không khí lâu cũng bị đen, ăn có mùi lạ không ngon. Nên
luộc phần lá và phần bẹ riêng. Quý vị nào không còn răng tốt để nhai
hay không ăn được cải silverbeet có thể ăn rau bina (spinach) –
người Quảng-đông gọi là “bó xchoy” – thay thế silver beet. Cải
silverbeet có tên khoa học là Beta vulgaris cicla – người Quảng-đông
gọi là “chuý nã xchoi”;
loại cải này lúc còn non trông giống “bó xchoi”, ăn giống “bó xchoy”; lúc già bụi rất lớn, lá rất dài – là thứ cải rất
dễ trồng, không cần chăm sóc. Trong siêu thị có bán từng bó – người
Tây Phương thích mua ăn; người mình thì lại chê; người Hoa sống ở
vùng nông thôn thường cho heo ăn.Theo thiển kiến, ai kén ăn thì hãy
xin hột về trồng lấy mà ăn lúc còn non, rất dễ ăn; nếu luộc sơ với
nước gà luộc ăn khá ngon, hợp với người già cả không còn răng để
nhai.
Theo kinh nghiệm
của tôi, nếu số lượng cải mua hơi nhiều; ăn không hết một lần số cải
đang có nên luộc phần lá ăn trước; phần cọng nên dành lại bữa ăn
khác, vì lá để lâu sẽ bị vàng úa, ăn có hại.
Tôi nghiệm thấy
nhờ ăn cải luộc nhiều – ăn khoảng nửa tô, tôi đi cầu rất trơn tru.
Do đó tôi bắt đầu ăn nhiều cải và trái cây, nhất là quả mơ hằng
ngày; nhờ vậy tôi không còn bị táo bón nữa và bịnh trĩ của tôi không
tái phát. Ngày nào thiếu cải và thiếu trái cây tôi có tâm trạng như
thiếu vắng một cái gì ấy, tựa như tâm trạng của một kẻ đang yêu khi
vắng bóng người mình yêu thương!
Mấy năm gần đây, ở Úc có bán bông cải xanh (broccoli), nhà tôi
thường hay mua luộc ăn. Tôi cũng thấy khá tốt về phương diện nhuận
trường. Theo một bài viết trong sách hay trong tạp chí nào đó tôi đã
đọc qua thì ăn loại cải này có thể ngừa được bịnh ung thư. Theo kinh
nghiệm của tôi thì nên luộc nhanh; không nên luộc lâu, vì luộc lâu
cải sẽ bị xanh úa – khi cải vừa trở màu xanh tươi đậm thì vớt ra ăn
ngay; luộc quá mềm hoặc để nguôi ăn mất ngon. Luộc với nước gà luộc
càng ngon. Theo một quyển sách nào đó tôi đã đọc qua thì ăn sống
loại cải này càng tốt. Nên nấu phần bông ăn ngay khi mua về, vì để
lâu bông dễ bị vàng úa; phần cọng thì dành cho bữa khác vì để lâu
không dễ biến chất như phần lá. Xin đừng bỏ phần cọng quá cứng, chỉ
cần lột bỏ phần ngoài, vì đó là phần có nhiều chất xơ nhất. Nên mua
loại có bông xanh đậm hãy còn tươi; tránh mua loại bán hạ giá vì quá
cũ, bông sắp trở màu vàng úa – ăn có hại hơn là lợi.
Tôi phát giác quả
mơ là thức ăn nhuận trường tuyệt diệu vào cuối năm 1987. Lý do là
sân sau nhà tôi có một cây mơ khá sai trái. Khi hái, tôi thường thấy
nhiều trái chín cây hay bị chim mổ lại ăn khá ngon. Tôi là con nhà
nghèo từ nhỏ lại từng bị đi tù cải tạo gần ba năm sau ngày 30 tháng
Tư năm 1975, nên tôi không muốn “phí của trời”. Tôi “ních” khá
nhiều quả mơ đó vào mùa chín rộ năm đó. Sau ngày ăn nhiều quả mơ như
vậy tôi phải chạy vào nhà cầu quýnh quáng; nếu không đủ nhanh thì
đũng quần ắt bị dơ ngoài ý muốn.Vào mùa mơ chín rộ, tôi thường chiếu
cố nhà cầu hơn thường lệ, và đi cầu rất huợt.
Vào mùa mơ, tôi
thường hái phân phát cho gia đình các em tôi và bạn bè quen biết mà
vẫn còn dư. Tôi thường hái nhiều đợt – có năm được mùa hái tới 6
đợt; cách vài ngày hái một đợt, hái những trái vừa chin tới có da
màu đỏ ửng đúng lúc – nếu chậm trễ thì bị chim ăn hay bị hư. Vài năm
sau đó tôi nảy ý trữ trong tủ ngăn đá để ăn dần, vì trái bị chim ăn,
trái quá nhỏ và trái có vỏ hơi xấu tôi đâu dám cho ai, giữ lại thì
ăn không hết. Ăn hết quả tươi tôi xoay qua ăn loại đông đá. Mỗi lần
muốn ăn tôi lấy một ít quả mơ trữ trong ngăn đá vừa đủ ăn trong ngày
đế sẵn trong ngăn tủ lạnh thường; khoảng một buổi thì trái mơ mềm
nhũn, có nước rỉ ra. Tôi nghĩ loại quả mơ đông đá để mềm nhũn như
vậy hợp với những ai không còn đủ răng để nhai mơ tươi hay mơ khô.
Ban đầu tôi ăn quả mơ nhiều cũng thấy ngán, vì không ngon bằng quả
đào. Tôi tự nhủ, thay vì uống thuốc, ăn quả mơ vừa bổ dưỡng lại
nhuận trường. Đây là của trời cho mình, tại sao mình không ăn? Hơn
nữa, đó là thứ trái cây có nhiều chất xơ nhất trong các lại trái
cây; ăn nhiều không bị nóng như xoài chẳng hạn. Từ đó trở đi tôi cố
gắng ăn liên tục rồi quen dần. Ăn lâu ngày, tôi cũng thấy không đến
nỗi tệ. Nếu ăn hết cây nhà lá vườn trữ trong ngăn đá, tôi mua mơ khô
trữ sẵn để ăn tiếp cho đến mùa mơ sau, khi cảm thấy thức ăn trong
ngày thiếu chất xơ.
Nếu quý vị thích ăn cứng và ăn lạnh được thì khi lấy ra từ ngăn đông
đá ăn ngay cũng được. Bằng không thì lấy ra để trong ngăn tủ lạnh
một buổi thì mềm nhũn giống như nấu chín rục vậy. Lúc đầu ăn loại mơ
để mềm tôi thấy hơi ngán; lâu dần tôi lại thấy ngon nhờ chất nước rỉ
ra chua chua ngọt ngọt. Theo kinh nghiệm của tôi, trái mơ càng chín,
càng có công dụng nhuận trường. Loại chín héo ăn dễ ngán hơn. Ăn
trái vừa chín tới trên cây khá ngon.
Đề nghị
Quả mơ dễ bị úng thúi nếu bị ẩm, nên trữ quả mơ trong hộc chứa rau
cải và trái cây trong ngăn dưới tủ lạnh giữ tươi ngon lâu – nhờ
thoáng, hơi nước đọng lại dưới đáy hộc có rãnh, không làm ẩm trái
cây trữ trong đó; xin chớ có để bên ngoài qua lâu vì mau héo. Nếu
mua hay trong nhà có quá nhiều quả mơ ăn không kịp thì nên xẻ đôi
hay xẻ làm tư quả mơ rồi mang phơi ngoài nắng suốt một ngày từ sáng
sớm tới chiều tối cho ráo nước. Làm như vậy các miếng mơ không dính
nhau khi đông cứng, dễ gỡ ra. Nên phơi khô bằng cách để quả mơ xẻ ra
trong đĩa lớn, và đậy bằng cái rổ dùng để rứa rau cải, tránh
được
ruồi bu khi phơi nắng. Nên nhớ là loại mơ đông đá không có phơi khô
cho ráo nước thì khó tách ra; quả mơ để đông đá ăn thấy chua hơn ăn
tươi. Nếu quý vị không thích ăn chua thì hãy lựa trái vừa chín tới
đế trong rổ đôi ba ngày bên ngoài cho chín hẳn rồi mời xẻ ra làm đôi
hay làm tư, bỏ hột trước khi trữ trong ngăn đá ăn dần. Vì vậy, nếu
quý vị không muốn bỏ công phơi khô, và trong nhà quý vị lại chỉ có
một người ăn thôi thì hãy trữ trong hợp mủ (plastic) nhỏ mà người ta
thường dùng để đựng nước mắm hay nước tương khi ta mua thức ăn tại
các quán ăn, hoặc trữ trong lọ thật nhỏ, vừa chứa khoảng ba bốn trái
thôi.
Quý vị nào sau nhà
có cây mơ ăn có quả không hết thì hãy hái cho người thân và bạn bè
ăn hay rủ họ tới hái về ăn từng đợt mỗi cuối tuần hay cách vài ngày
càng tốt –
nếu chậm trễ thì bị chim mổ những trái vừa
chín tới. Chớ phí của trời cho quý báu này, quý vị nhé! Mơ
khô ở siêu thị ăn ngon ngọt hơn mơ tươi, lại có nhiều chất sắt hơn.
Nếu quý vị nào hay
bị táo bón mà không thích ăn cải có chất xơ và ăn cam hay nhả xác
thì nên ăn mơ khô. Điều nên nhớ là xác cải và xác cam là chất xơ’;
đó là chất nhuận trường. Một ngày ăn khoảng ba bốn trái mơ trở lên
thì sẽ giúp đi cầu trơn tru. Càng ăn nhiều càng dễ đi cầu. Nên ăn
lúc bụng đói, càng tốt.
Quý vị nào vì công
việc làm ăn thường xuyên hoạt động ngoài đường phố, không có thì giờ
ăn trưa, hay trong chuyến đi du lịch ăn uống thất thường thì nên mua
mơ khô và hột hạnh nhân – cũng có nhiều chất xơ – trữ sẵn để ăn dọc
đường khi buồn miệng hoặc đói bụng. Chớ có ăn quá nhiều hột hạnh
nhân vì ăn nhiều không tốt – tôi có hỏi ý kiến của thầy thuốc
đông y về
liều lượng dung hạnh nhân hằng ngày, thì ông bảo dùng khoảng vài
hột như ông ra toa; tôi thấy khoảng sáu hột.
Theo thiển kiến, nên
ăn hạnh nhân rang chín.
Gần đây tôi lại
khám phá ở siêu thị có bán loại thức ăn có nhãn hiệu “Just BRAIN”.
Đó là loại thức ăn làm bằng cám nén thành cọng nhỏ, Trộn món ăn này
với sữa bò tươi hoặc sữa đậu nành ăn liền khá ngon miệng, vừa dòn
vừa béo lại vừa ngọt. Nếu ăn khô cũng khá ngon, rất dòn. Đó là loại
thức ăn tốt cho sức khoẻ nhờ hàm lượng chất xơ và sinh tố bổ sung
dồi dào. Thỉnh thoảng tôi mang theo thức ăn này, sữa đậu nành và
trái cây để ăn trưa trên đường đi làm, khi thấy cần thiết. Khi ăn
nhiều tôi thấy đó cũng là thức ăn nhuận trường tốt. Tôi nghĩ thức ăn
này rất thích hợp cho quý vị cao niên hay bị táo bón. Xin quý vị nhớ
ăn liền khi trộn sữa vào thức ăn này nhé! Để lâu sẽ mềm nhũn, ăn
không ngon, dễ ngán.
Ước mong
Tôi mong mỏi bài viết này sẽ giúp ích cho quý vị cao niên kém sức
khoẻ lại hay bị táo bón. Chúc quý vị sẽ tìm thấy niềm vui trong cuộc
sống vì sức khoẻ khá hơn, đi cầu dễ dàng, thường xuyên hơn và nhất
là khỏi phải uống thuốc xổ nữa. Tôi nghĩ thuốc xổ có hại cho đường
ruột, bất đắc dĩ ta mới dùng nó.
Tôi cũng ước mong, “những ai đau khổ vì bịnh trĩ” sẽ thấy dễ chịu
trong cuộc sống vì đã thoát nạn bịnh trĩ, nhờ đi cầu trơn tru hằng
ngày. Chúc quý vị sẽ có làn da mặt hồng hào hơn, mượt mà, tươi tắn,
và trông trẻ trung, thon gọn hơn xưa.
Nếu trong tương lai tôi nhận được nhiều tin vui của quý vị gởi tới
thì tôi sẽ rất vui, vì đó là niềm hạnh phúc lớn lao đối với tôi; nếu
được như
vậy thì tôi đã đạt
được mục đích khi tôi có ý định viết bài viết này vậy.
Tài liệu
tham khảo:
“Healing Drinks”,
Anne McIntyre, Simon & Schuster, Australia P/l, ấn bản năm 2000,
trang 35, 51, 95 và 110.
“World Book” (Encyclopedia) Vol.A 1, ấn bản năm 1992, trang 506.
“Super foods for Children”, Michael Van Straten & Babara Griggs
Dorling Kindrsley us. Pty Ltd, ấn bản năm 2001, trang 38.
“The Ultimate Smoothie Book”, Cherie Calbom, A time Warmer Company,
USA, ấn bản tháng Tám năm 2001, trang 12 và 13.
Ghi chú:
Khởi viết ngày 14 tháng 5 năm 2001.
Hiệu chính
xong ngày
14
tháng 2 năm 2007.
Mong nhận được ý kiến đóng góp của quý vị, nếu quý vì thấy có gì sai
sót, để bản văn này được hoàn chỉnh khi có dịp hiệu chính sau này.
Quý vị có thể liên lạc bằng email qua địa chỉ email ghi trên đầu
bài.