Tổng Hội Hải Quân và Hàng Hải Việt Nam     

 Tiếng nói Hải Quân và Hàng Hải Việt Nam

© Copyright Tổnghội hqhhvn. 2007

Home |Trang chủ |Tin Hải Sử |Tin Biển | Hoàng Sa & Trường Sa | Web site bạn

                             

 CÂU ĐỐI

 HQ Nguyễn v Đệ (K-20)

Thủa còn nhỏ, trước ngày di cư năm 1954, vào những ngày trước Tết tôi được giao cho nhiệm vụ phụ ông anh lớn lau chùi bàn thờ gia tiên và những câu đối treo trên cột, hay bức hoành phi treo giữa nhà. Tôi lúc đó tuy chỉ là một thằng bé con đang học ê a đánh vần chữ quốc ngữ, nên chẳng biết những chử nho viết trên câu đối là cái gì, nhưng cũng thấy rất là “hãnh diện” vì cái nhiệm vụ thiêng liêng qua điệu bộ hết sức là trang trọng của ông anh khi làm chuyện này. Sau này có dịp trở lại quê nhà, nhà ông nội tôi đã không còn nữa, mà những câu đối chắc cũng đã được đem ra bổ củi nấu bếp mất tiêu rồi!

Khi mới lên trung học, tôi mới được làm quen với câu đối qua những lớp Hán Văn hay Cổ Văn. Những giờ nghỉ vì giáo sư vắng mặt, lại thường hay la cà nơi Lăng Ông, Gia Định. Xin tóm lược sơ sơ phép làm câu đối:

Câu đối thường phải có hai vế, vế trên và vế dưới. Mỗi vế là một câu gồm bởi nhiều từ gom lại với đầy đủ ý nghĩa, nói rõ về một chủ đề hay một khái niệm rõ ràng hay mơ hồ bóng gió. Vế trên và vế dưới phải đối ý, hay đối nghĩa, hoặc phải đối chọi với nhau từng chữ một. Đối chữ thì phải đối cã nghĩa lẫn ý và cả về vần như vần bằng hay vần trắc, thí dụ như “trên” đối với “dưới”, “Đông” đối với “Tây”…

Trong văn chương cổ văn, không một ai qua ngưỡng cửa Trung học mà không được học văn chương câu đối của những bậc tài danh như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Trần Tế Xương, Hồ Xuân Hương, Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến…

Tôi xin nêu lên một vài thí dụ:

a.)                           Nguyễn Công Trứ: sinh ra vào thời Lê mạt, lận đận trên đường công danh thi cử, mãi tới năm ngoài 20 tuổi mới đậu Tú Tài, ngoài 30 mới đậu được Giải Nguyên. Làm quan và có khi bị giáng cấp xuống thành lính thú từ thời Minh Mạng, Thiệu Trị, và Tự Đức thì về hưu trí tại Thái Bình. Ông làm nhiều thơ và nhất là hát nói. Những người Hải Quân chúng ta thường thích nhất hai câu thơ của ông là  “ Chơi cho lịch mới là chơi; Chơi cho đài các cho người biết tay”. Trong những bài hát nói của ông thường những câu mưỡu là những câu đối. Thí dụ những câu đối của Nguyễn Công Trứ:

- Anh em ơi, băm sáu tuổi rồi, khắp Động Tây Nam Bắc bốn phương trời, đâu cũng lừng danh công tử xác.

- Trời đất nhẽ, một phen này nữa xếp cung kiếm cầm thư vào một gánh, làm cho nổi tiếng trượng phu kềnh.

-         Tối ba mươi nợ réo tít mù, co cẳng đạp thằng bần ra khỏi cửa.

-         Sáng mồng một rượu say túy lúy, dơ tay bồng ông phú vào nhà.

-         Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc?

-         Tri nhàn tiện nhàn, đãi nhàn hà thời nhàn?

(Biết đủ tức là đã đủ, đợi đến có đủ biết bao giờ mới đủ? Biết nhàn tức là đã nhàn, đợi đến có nhàn biết bao giờ mới nhàn? Trong bài Chữ Nhàn.)

b.)                           Cao Bá Quát: Hiệu là Cao Chu Thần, sanh bất phùng thời. Nhà nghèo, thông minh học giỏi, nhưng lận đận trên đường thi cử. Không được trọng dụng trên con đường hoạn lộ, nên sau này làm quân sư cho Lê Duy Cự, dòng dõi nhà Hậu Lê,  nổi lên làm loạn chống lại nhà Nguyễn, bị gọi là giặc Châu Chấu. Có một giai thoại về ông là ông từng nói là trong thế gian này có cả thẩy ba bồ chữ, ông chiếm mất hai bồ, bồ còn lại là của ông anh của ông biết được một nửa, còn nửa còn lại thì mới đem chia cho thiên hạ. Ông bị bắt, bị chém đầu, và bị tru di tam tộc! Ông để lại rất nhiều văn thơ, nhưng những câu sau khi ông bị sa cơ thất thế thì được người đời biết rành hơn:

-         Một chiếc cùm lim, chân có đế;

-         Ba vòng xích sắt, bước còn vương.

- Ba hồi trống giục, mồ cha kiếp;

- Một nhát gươm đưa, bỏ mẹ đời.

c.)                            Hồ Xuân Hương: Sống vào cuối thế kỷ thứ 18, bà là một nữ thi sĩ độc đáo trong lịch sử văn học Việt Nam.

-         Vươn tay với thử trời cao thấp;

-         Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài.

- Ong non ngứa nọc châm hoa rữa;

- Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa.

        (Mắng học trò dốt)

-         Cỏ gà lún phún leo quanh mép;

-         Cá diếc le te lách giữa dòng.

(Giếng nước)

d.)                           Nguyễn Khuyến: Ông người làng Yên Đổ, nhà nghèo học giỏi. Thi Hương, thi Hội, và thi Đình, ông đều đậu giải nhất (trạng nguyên) nên thường được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ. Sống vào thời Nguyễn mạt, nên con đường hoạn lộ của ông có nhiều thăng trầm, và ông chọn về hưu non để giữ lấy cái khí tiết của người sĩ khí, ông ngồi nhà làm thơ, dậy học. Ông giỏi làm thơ bằng cả chữ Nôm lẫn chữ Hán. Câu đối của ông có rất nhiều, xin ghi lại một ít:

-         Người nước Nam, hỏi tiếng Tây chẳng biết tiếng Tây, hỏi tiếng Tầu chẳng biết tiếng Tầu, cho nên phải: “Minh tiên Vương chi đạo dĩ đạo” (Phải làm sáng cái đạo của tiên vương)

-         Nhà hướng Bắc, chưa ai rét mình đã rét, chưa ai nực mình đã thấy nực, mới gọi là:”Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu” (Thiên hạ chưa lo mình đã lo.)

-  Không tham không hãi, không dại không lo, không cứng cổ không to khí tượng;

-  Có phúc có phần, có nhân có qủa, có lọt lòng có nợ quân thần.

-         Nhà chỉn cũng nghèo thay! Nhờ được bà hay lam hay làm, thắt lưng bó que xắn váy quai công, tất tả chân đăm đá chân chiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc.

-         Bà đi đâu vội mấy! Để cho lão vất vả vất vương, búi tó củ hành buông quần lá tọa, gật gù tay đũa chạm tay chén, cùng ai kể lể chuyện trăm năm.

e.)                           Tú Xương: Ông đậu tú tài nên được gọi là Tú Xương. Ông sống vào đầu thế kỷ thứ 20, buổi giao thời giữa Nho học và Tây học. Nhà nghèo con đông nên chỉ trông mong vào bà vợ quán xuyến, con đường hoạn lộ không có, thi mãi cũng chỉ đỗ được cái Tú Tài, mà  lại thích ăn chơi nên ông mất sớm khi chưa đến tuổi bốn mươi. Ông để lại rất nhiều thơ và câu đối:

-         Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo;

-         Nhân tình bạc thế lại tô vôi.

Tết dán câu đối (thơ):

        Nhập thế cục bất khả vô văn tự (1);

        Chẳng hay ho cũng nghĩ một vài câu;

        Huống chi mình cũng đỗ Tú Tài;

        Ngày Tết đến phải một vài câu đối:

        Đối rằng:

“Cực nhân gian chi phẩm giá, phong nguyệt tình hoài,

Tối thế thượng chi phong lưu, giang hồ khí cốt ”(2)

        Viết vào giấy dán ngay lên cột;

        Hỏi mẹ mày rằng dốt hay hay hay?

        - Rằng hay thì thực là hay,

        Chẳng hay sao lại đỗ ngay Tú Tài;

        Xưa nay em vẫn chịu ngài.

(1.- Vào đời không thể không có tí văn chương chữ nghĩa.

2.- Cái phẩm gía cao nhất nơi nhân gian là cái tính nhớ trăng thương gió. Cái sự phong lưu nhất ở trên đời là cái khí cốt giang hồ.)

-         Xe kéo rợp trời, quan Sứ đến;

-         Váy lê phết đất, mụ Đầm ra.

Ngày xuân Đinh Hợi, tôi nhớ đến những kỷ niệm ngày tháng cũ, nên viết ra những dòng này, không có ý trình bầy, khảo cứu, phân tích, hay lạm bàn, mà chỉ muốn viết nên vài dòng chia cái vui ngày Tết sắp đến với qúy vi. Để chấm dứt bài này, xin chép lại bài thơ “Ông Đồ” của Vũ Đình Liên, mà tôi cũng đã được học trong những năm thủa còn theo học Trung Học.

Ông Đồ

Mỗi năm hoa đào nở,

Lại thấy ông đồ gìa,

Bày mực tàu giấy đỏ,

Bên phố đông người qua.

 

Bao nhiêu người thuê viết,

Tấm tắc ngợi khen tài,

“Hoa tay thảo những nét,

Như phượng múa rồng bay.”

 

Nhưng mỗi năm mỗi vắng,

Người thuê viết nay đâu?

Giấy đỏ buồn không thắm,

Mực đọng trong nghiên sâu.

 

Ông đồ vẫn ngồi đấy,

Qua đưòng không ai hay,

Lá vàng rơi trên giấy,

Ngoài giời mưa bụi bay.

 

Năm nay đào lại nở,

Không thấy ông đồ xưa,

Những người muôn năm cũ,

Hồn bây giờ ở đâu?

Tết Đinh Hợi 2007
Nguyễn văn Đệ
Top trở về