Nhạc: Bạch Đằng Giang - (Cần để nghe)

Quê hương bốn ngàn năm:
Kiếp - Bạc đền thờ Đức Trần Hưng Đạo sông Bạch Đằng lịch sử

Mai Lân


 





Tổng


Hội


Hải


Quân


&


Hàng


Hải


Việt


Nam




Năm 1985 - trước khi rời bỏ đất nước sang Hoa Kỳ vào năm 1989 để xum họp với con cháu - tôi đã đến đền thờ Đức An Sinh Vương Trần Liễu, thân phụ Đức Trần Hưng Đạo, để thăm viếng - trong chương trình đi thăm toàn bộ các di tích lịch sử 4 năm liền. Đền thờ ngài ở trên đỉnh núi An Phụ, huyện Kim Môn tỉnh Hải Dương, dân địa phương gọi là đền Cao, trên vùng đất AN SINH của ngài mang tên an sinh vương. Tới nơi - tôi thật bàng hoàng vì chính quyền vô thần địa phương - do đố kỵ với cụ từ giữ Đền Cao - đã cho một tên giả điên đến đốt đền, thiêu rụi hết tượng gỗ, khám thờ, bài vị, cờ quạt, lọng, biểu ... Tôi tưởng chuyện đó chỉ xảy ra ở một miền núi mọi rợ, chậm tiến, ai ngờ lại thấy xẩ y ra giữa vùng Thung Lũng Hoa Vàng miền Bắc Cali. Tượng Đức Trần Hưng Đạo bị mưu phá tại Miếu thờ trong công viên văn hóa truyền thống Việt Nam, đã bị nứt tay, rụng ngón chỏ !!!...

Kiếp Bạc: đền thờ Trần Hưng Đạo

Kiếp Bạc từ lâu đã trở thành điển tích của lịch sử và mỗi khi nhắc đến như một tiếng chuông cảnh tỉnh làm xúc động lòng người nhớ về một thời oanh liệt, một anh hùng dân tộc, về những ngày hội truyền thống và như nhắc nhở đến nghĩa vụ của mỗi người dân Việt đối với nòi giống, quê hương. Kiếp Bạc thuộc Lương Vạn Kiếp, Lộ Lạng Giang đời Trần, thời Nguyễn thuộc địa phận hai xã Vạn Yên (Làng Kiếp) thuộc tổng Trạm Điền và xã Dược Sơn (Làng Bạc), tổng Chí Ngại, nay thuộc xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

Kiếp Bạc có dãy núi Rồng hình tay ngai bao lấy một thung lũng trù phú và thơ mộng, bảo lưu nhiều di tích quý báu và truyền thuyết ly kỳ về Trần Hưng Đạo. Đông Nam Kiếp Bạc tiếp giáp vùng núi Phả Lai, Phượng Hoàng, Côn Sơn là những nơi có di tích lịch sử và danh thắng nổi tiếng từ thời Lý Trần. Xa hơn một chút là đền thờ Phiêu Ky Đại tướng quân: Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư - tục gọi là đền Gốm, bên bờ vụng Trần Xá - nơi họp hội nghị vương hầu, bách quan (Hội Nghị Bình Than) bàn kế sách giữ nước tháng 11 năm 1282. Phía tây giáp sông Thương - một nhánh của sông Lục Đầu - mà thời Trần còn có tên là sông Bình Than. Giữa sông có một dải đất hẹp và dài gọi là Cồn Kiếm. Dân gian cho rằng đó là thanh kiếm của Trần Hưng Đạo sau khi dẹp xong giặc ngoại xâm, đặt lại đấy để nhắc nhở đời sau luôn cảnh giác trước họa xâm lăng. Phía bắc, thung lũng Vạn Yên rộng lớn. Giữa thung lũng có sông Vang tuy nhỏ mà sâu, tạo điều kiện cho thuyền bè vào sát chân núi. Hai nhánh núi Rồng tiến sát giòng sông, nhánh phía bắc gọi là núi Bắc Đẩu, nhánh phía nam gọi là núi Nam Tào. Trên mỗi đỉnh núi từng có một ngôi chùa cổ kính Rừng Kiếp Bạc xưa bạt ngàn gỗ quý như: Lim, sến, tán, cùng thông, trúc xanh tốt quanh năm. sông Lục Đầu lắm tôm, nhiều cá cho ngư dân thả lưới, quăng chài. Từ Kiếp Bạc có sáu đường sông và đường bộ, tiến lui ều thuận, như về Thăng Long, ra biển, lên bắc, xuống miền đồng bằng. Các thung lũng nối liền với sông Lục Đầu có thể tập kết hàng chục vạn quân thủy bộ, hàng nghìn thuyến chiến.

Từ đỉnh núi Nam Tào, Bắc Đẩu có thể quan sát một miền rộng lớn, núi sông, làng mạc bao la, tầu thuyền ngược xuôi tấp nập. Vì thế Kiếp Bac không chỉ là một cảnh quan hùng vĩ mà còn là một vị trí quân sự quan trọng, một vùng đất giàu có của đất nước. Chẳng phải ngẫu nhiên mà Trần Hưng Đạo đã lập phủ đệ và quân doanh ở đây từ sau cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần thứ nhất.

Lược sử vị anh hùng dân tộc

Hưng Đạo Đại Vương - tên thực là Trần Quốc Tuấn - là đệ nhất công thần đời Trần và là vị anh hùng dân tộc, vào khoảng cuối thế kỷ XIII đã hai lần chặn đứng bước xâm lăng của giặc Nguyên để bảo toàn đời sống tự do cho đất nước. Dân chúng gọi tôn là Đức Thánh Trần. Người làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định (Bắc phần), Trần Hưng Đạo là con trai trưởng của An Sinh Vương Trần Liễu và thân mẫu ngài huý là bà Nguyệt, thuộc dòng tôn thất nhà Trần. Đức Trần Quốc Tuấn cũng là trưởng tộc họ Trần, chi họ Trần kế nhau làm vua là chi thứ. Có một nhân vật - cũng con trai của An Sinh Vương Trần Liễu, nhưng khác mẹ - mà nhiều sử gia lầm là anh của đức Trần Quốc Tuấn - đó là Trần Doãn, còn có tên là Trần Tung, sau khi bố và mẹ qua đời, không có chỗ tựa, đã đem gia quyến trốn sang Tầu, gặp lúc giặc Nguyên ấp xuống, bị chết ở biên giới toàn gia đình.

Thực ra, theo sử liệu, người này sinh sau đức Trần Quốc Tuấn 2 năm, mẹ là công chúa trưởng của vua Lý Huệ Tông, chị ruột công chúa Lý Chiêu Hoàng sau lấy Trần Cảnh, lập nhà Trần, là vua Trần Thái Tông.

Nguyên sau khi vua Lý Cao Tông cùng thái tử Sam phải bỏ kinh thành chạy lên sông Thao (Phú Thọ) vì bị Trần Quách Bốc (tướng của Bỉnh Di) định cướp ngôi của nhà Lý. Thái tử Sam chạy về Hải ...p (Thái Bình) vào nương náu ở nhà Trần Lý - cao tổ phụ của Trần Hưng Đạo - ở làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, phủ Xuân Trường, đến đời Nguyễn lập thành tỉnh Nam Định. Trần Lý gả con gái là Trần Thị Dung cho thái tử Sam, sau là Hoàng Hậu Thiên Cực, vợ vua Lý Huệ Tông (mẹ của 2 công chúa: chị là Thuận Thiên lấy Trần Liễu, em là Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh). Khi họ trần tập trung lực lượng, đem quân mới lập cùng gia đình họ Trần, về giải phóng Thăng Long, đánh lật Quách Bốc, đưa thái tử Sam lên làm vua, tức Lý Huệ Tông. Vua Lý Huệ Tông và Hoàng Hậu Thiên Cực tứ hôn cho Trần Liễu thành hôn với công chúa trưởng là Thuận Thiên. Trần Liễu quả thực là đã có vợ hứa hôn là bà Nguyệt, nay không dám trái lệnh vua, nhưng xin đặt hai bà ngang nhau. Vua Lý chấp thuận.

Vị công chúa trưởng này sau khi có một con trai với Trần Liễu, là Trần Doãn (hoặc Trần Tung - nhân vật này đã được một vị cao tăng suy tôn là Tuệ Trung Thượng Sĩ, thầy của Trúc Lâm tam tổ), đến khi có mang lần thứ 2 được 3 tháng thì bị Trần Thủ Độ ép lấy vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) để lấy "vốn" cho đời vua sau của họ Trần. Lý do bà bị tách khỏi Trần Liễu để gả cho Trần Cảnh (1225-1258) vì em bà là Lý Chiêu Hoàng, sau khi làm hoàng hậu 12 năm không có con, Trần Thủ Độ sợ dòng vua họ Trần đầu tiên bị tuyệt tự, nên ép tái hôn với bà này, sau khi giáng Chiêu Hoàng từ hoàng hậu xuống bực công chúa (sau gả cho Lê Phụ Trần có công cưu mang Trần Thái Tông, sinh ra dũng tướng Trần Bình Trọng - Lê Phụ Trần được ban quốc tính họ Trần). Bà Hoàng Hậu thứ hai của Trần Cảnh tức vua Trần Thái Tông (tên là Thuận Thiên), sau là mẹ của các vị danh tướng triều Trần: Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, đồng thời cũng là mẹ của vua Trần Thánh Tôn (Hoảng) (1258-1278), Trần ích Tắc v.v... Cái thai ba tháng sau là con trưởng, tên là Trần Quốc Khang tước hiệu là Tĩnh Quốc Vương - vì mang dòng máu của Trần Liễu nên không làm vua - người. Làm vua là con trai thứ hai của bà, con của Trần Cảnh, vua Trần Thái Tông.

Hồi 500.000 quân Nguyên (tức quân Mông Cổ) dưới quyền thái tử Thoát Hoan xâm nhập nước ta (tháng 10 năm Quý Mão - 1283), Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn được vua Trần Nhân Tông phong làm Quốc Công Tiết Chế, thống lĩnh mọi quân để lo việc chống giặc bờ cõi. Các ải Khả Li, Lộc Châu, rồi Chi Lăng thất thủ, Hưng Đạo Vương phải rút quân về Vạn Kiếp. Vua Nhân Tông thấy bên ta yếu vả lại ít quân, tỏ ý muốn đầu hàng đế tránh sự khổ cực cho trăm họ. Vương khẳng khái tâu: "Xin trước hãy chém đầu thần, rồi sau hãy hàng!" Vạn Kiếp bị uy hiếp, rồi Thăng Long thất thủ; nơi nơi tướng Trần không đương đầu nổi với giặc, bại trận hoặc bị giết hay đầu hàng.

Trước tình thế nguy ngập đó, Hưng Đạo Vương phải rước vua Trần Nhân Tông và Thượng hoàng Thánh Tông xuống Thiên Trường, nhưng sau lại phải chạy vào Thanh Hóa, tính chuyện cố thủ lâu dài. Chẳng bao lâu, sau khi đã luyện tập quân sĩ hẳn hoi rồi, Hưng Đạo Vương ra lệnh phản công, phá được quân Toa Đô ở Hàm Tử Quan, thắng quân Nguyên ở Chương Dương Độ trước khi khôi phục được thành Thăng Long, đánh bại và giết Toa Đô ở Tây Kết, thắng trận Vạn Kiếp. Thoát Hoan phải chui vào ống đồng, đặt lên xe bắt quân kéo chạy mới thoát về Tàu.

Sau đó, vào mùa thu năm Đinh Hợi (1287), khi 300.000 quân Mông Cổ dưới quyền Thoát Hoan lục tục sang nước ta để phục hận, Hưng Đạo Vương lại được cử thống lĩnh các vương hầu để kháng địch. Thấy thế giặc còn mạnh, Hưng Đạo Vương nhử giặc sâu vào nội địa, một mặt cho người rước xa giá hai vua Trần vào Thanh Hóa, mặt khác lo tổ chức việc phòng bị. Chận đứng bước tiến của quân Mông Cổ đễ giữ vững kinh đô Thăng Long, và sau khi tướng Trần Khánh Dư phá được đoàn thuyền vận lương của giặc tại Vân Đồn, Hưng Đạo Vương dự đoán thế nào rồi giặc cũng phải thối binh, nên cho quân mai phục tại sông Bạch Đằng, đoạn dùng lại mưu chước của Ngô Vương Quyền ngày trước, nhờ ngọn thủy triều phá được thủy quân bên Nguyên hết sức oanh liệt: trong trận này (xảy ra vào khoảng tháng ba năm Mậu Tý - 1288), ta tịch thâu được hơn 400 chiến thuyền và bắt sống được vài vạn binh sĩ Mông Cổ.

Thoát Hoan được tin thủy quân thua trận ở Bạch Đằng Giang, vội dẫn bọn tùy tướng theo đường bộ chạy về Tàu. Đến ải Nội Bàng, gặp phải phục binh của Hưng Đạo Vương, lại thua thêm một trận nữa; tướng sĩ Nguyên bị giết hại rất nhiều. Thoát Hoan may thoát khỏi trùng vi qua Lộc Châu để về Châu Tư Minh. Sau khi lần kháng Nguyên (2 lần sau, lần đầu Trần Hưng Đạo chỉ tham dự, chưa lãnh đạo) và đều thắng lợi vẻ vang, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã đem lại cảnh thái bình cho đất nước. Ngài làm quan trải ba triều vua, đến đời vua Trần Anh Tông thì xin về trí sĩ tại Vạn Kiếp. Ngày 20 tháng Tám năm Canh Tý (1300) Hưng Đạo Vương mất, thọ hơn 70 tuổi, được phong Thái Sư Thượng Phụ Thượng Quốc Công Bình Bắc Đại Nguyên Soái Long Công Thịnh Đức Vĩ Liệt Hồng Huân Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương.

Bằng những vũ công oanh liệt, hưng đạo vương đã khiến cho quân Mông Cổ - những đối thủ hùng cường thiện chiến nhất thời bấy giờ - phải hai lần khiếp đảm kinh hồn. Và qua bấy nhiêu giai đoạn kháng Nguyên, ngoài việc tỏ rõ tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam, Đức Trần Hưng Đạo còn để lại cho các nhà quân sự về sau những kinh nghiệm quý báu trong việc dụng binh.

Sử chép ngài có soạn thành sách "Binh gia diệu lý yếu lược" (gọi tắt là "Binh gia yếu lược") để dạy các tì tướng. Quyển này hiện nay còn lưu truyền. Ngoài còn sưu tập binh pháp các nhà, làm thành những đồ họa Bát quái, Cửu cung, đề tên là "Vạn Kiếp Tông bí truyền thư" (hoặc "Vạn Kiếp Binh Thư") nay bị thất truyền. Hai bộ sách này, theo "lịch triều hiến chương" của phan huy chú, bị quân nhà Minh tịch thâu - đời Minh Thành Tổ (1403-1407) - cùng với đa số sách quý giá khác do người nước ta trứ tác để đưa về Tàu. Ngoài ra, bài "hịch tướng sĩ văn" (Hịch khuyên răn tướng sĩ) bằng Hán văn Ngài viết vào hồi kháng Nguyên chan chứa một tấm lòng lo nước thương dân hết sức thiết tha. Khi trước, quân đội Việt Nam Cộng Hòa tôn Đức Trần Hưng Đạo làm Thánh Tổ Hải Quân để ghi nhớ tài ba siêu việt của Ngài trong sự nghiệp cứu nước, nhất là theo chiến công oanh liệt thắng quân Mông Cổ trên sông Bạch Đằng.

Lúc đất nước lâm nguy, Ngài nhận trách nhiệm về mình, kiên quyết, tự tin, đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích cá nhân. Gần nửa thế kỷ chỉ huy quân đội, thiên tài quân sự của Ngài đã được khẳng định trên hai phương diện: Lý luận và thiệc tiễn. Ngài là người nắm vững trí thức quân sự đương thời, có tầm nhìn chiến lược sâu sắc, phát huy cao độ truyền thống đanh giặc giữ nước của dân tộc, cùng với triều đình phát động thành công cuộc chiến tranh toàn dân, đánh bại quân đội hùng mạnh nhất thế giới lúc đó, cùng những tướng lĩnh sừng sỏ, đè bẹp ý chí xâm lược của kẻ thù. Ngài đối với quân sĩ như cha con. Nhiều gia thần, môn khách của Ngài làm nên sự nghiệp lớn như: Yết Kiêu, Dã Tượng, Phạm Ngũ Lão, Trần Thì Kiến, Trương Hán Siêu, Phạm Lãm, Trịnh Dũ, Ngô Sĩ Thường, Nguyễn Thế Trực ... Ngài nhận thấy vai trò vĩ đại của quần chúng - đã từng nói: "Chim hồng lộc bay cao được là nhờ sáu trụ xương cánh, nếu không thì cũng như chim thường thôi".

Do có cống hiến to lớn cho dân tộc, ngay lúc sinh thời, Ngài đã được lập đền thờ, gọi là "sinh từ". Vua Trần Thánh Tông tự soạn văn bia ca ngợi công đức của Ngài tại sinh từ. Đền thờ Ngài sau được tôn tạo tại một khu đất ở trung tâm thung lũng Kiếp Bạc. Qua các triều đại, đền vẫn tôn nghiêm. Tháng 2-1427, cuộc kháng chiến chống giặc Minh đang ở giai đoạn quyết liệt, Lê Lợi đã cho Dương Thái Nhất sửa chữa đền và cấm chặt cây ở miếu. Qua nhiều thế kỷ gió mưa nhiệt đới và chiến tranh, các công trình kiến trúc ở Kiếp Bạc từ thời trần và thời lê đã bị hủy hoại, cây cảnh và rừng gỗ quý cũng không còn. Các công trình kiến trúc ở khu đền hiện nay được trùng tu, tôn tạo vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1946-1954) bọn quân đội Pháp đã rỡ chùa Nam Tào, hành lang, và trung từ (đền giữa) Kiếp Bạc để xây dựng đồn bóp, chặt phá cây cổ thụ và cướp đi nhiều đồ tế tự quý giá. Đền hiện nay còn bẩy pho tượng đồng:

1 - Đệ nhất Khâm Từ Hoàng Thái Hậu - (bà là Quyên Thanh Công Chúa, con gái thứ nhất) - Vợ vua Trần Nhân Tôn.
2 - Đệ nhị nữ Đại Hoàng - (Anh Nguyên Quận Chúa, con gái thứ hai - Vợ Phạm Ngũ Lão.
3 - Nguyên Từ Quốc Mẫu tức Thiên Thành Công Chúa - phu nhân Trần Hưng Đạo.
4 - Đức Trần Hưng Đạo.
5 - Phạm Ngũ Lão (con rể)
6 - Dã Tượng (gia thần)
7 - Yết Kiêu (gia thần)

Bốn cổ ngai thờ bốn con trai:

1 - Hưng Võ Vương Trần Quốc Hiến
2 - Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng
3 - Hưng Trí Vương Trần Quốc Nghĩa
4 - Hưng Hiền Vương Trần Quốc Uy.

Trong đền và khu vực di tích hiện còn một số đồ thờ, hoành phi, câu đối, bia ký, sắc phong của các triều đại. Trước tam quan có hai hàng chữ lớn: Hàng trên: giữ thiên vô cực (sự nghiệp này tồn tại mãi mãi với đất trời). Hàng dưới: Trần Hưng Đạo Vương từ (đền thờ Trần Hưng Đạo Vương). Tiếp đó là hai câu đối:

Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí
Lục Đầu vô thủy bất thu thanh
(Vạn Kiếp núi lồng hình kiếm dựng
Lục Đầu vang dậy tiếng quân reo)

Qua nhiều năm nghiên cứu, thám sát, khai quật tại Kiếp Bạc, đã khám phá nhiều di tích quan hệ đến Trần Hưng Đạo như: từ cũ, xưởng thuyền, đường hành cung, hố chân bia, hang tiền, hang thóc, bình diện công trình kiến trúc, đồ gốm, vũ khí, tiền đồng, vật trang trí ... Tại khu đất sau đền đã phát hiện một sân gạch hoa và nhiều nền nhà nối tiếp nhau, chứng tỏ là một công trình kiến trúc lớn thuộc phủ đệ Trần Hưng Đạo. Khu vực Từ cũ tìm thấy nhiều vỉ gạch, đá tảng và hàng chục thước khối ngói mũi hài, mũi vuông phế thải. Cách Từ Cũ không xa, còn phát hiện một đường dẫn nước bằng đất nung, đường kính tới 35cm. Trên núi Trán Rồng và dưới thung lũng còn nhiều dấu tích của các công trình kiến trúc. Khu vực núi Nam Tào khai quật được hai lò nung gốm khá nguyên vẹn ở chân núi: gạch hoa cúc, rồng, phượng đất nung ở nền chùa; nhạc, voi, chậu đồng ở thung lũng. Vườn thuốc nam trên núi do Trần Hưng Đạo cho người trồng đã chữa bệnh và vết thương cho quân sĩ, sau gọi là Dược Sơn và trở thành một trong "Bát Cổ" của Chí Linh. "Bát Cổ" còn gọi là "Bát Cảnh" "Chí Linh Bát Cảnh". Tám cảnh gồm có:

1 - "Trạng Nguyên Cổ đường" túc nhà học của trạng Mạc Đĩnh Chi nhà Trần, nay cư dân lập thành chùa gọi là chùa Quất Lâm ở làng Tống Xá.
2 - "Tiều ẩn Cổ Bích" là chỗ Chu Văn An đời Trần ở ẩn trong núi Phượng Hoàng thuộc xã Kiệt Đặc.
3 - "Dược Lĩnh Cố Viên" là chỗ Hưng Đạo Đại Vương trồng những cây cỏ làm vị thuốc trong núi để chữa bệnh cho quân sĩ, nay tại xã Kiếp Bạc.
4 - "Bình Than Cổ Độ" tại làng Trần Xá, chỗ Trần Khánh Dư mặc áo tơi chở thuyền đi bán than, thì gặp lại vua Trần Nhân Tôn. Vua hội Vương hầu và bá quan bàn việc chống quân Nguyên tại đây. Nhân dịp này vua xóa lỗi cũ cho Trần Khánh Dư và cho giữ chức Phó Đô tướng quân - Bình Than là khúc hạ lưu sông Lục Đầu.
5 - "Phao Sơn Cổ Thành" là thành do quân Minh đắp trên núi xã Phao Sơn được nới rộng thêm, kéo dài đến xã Hữu Lộc.
6 - "Thượng Tể Cố Trạch" là chỗ phong ấp của Huệ Vũ Vương (?) Trần Quốc Tuấn.
7. "Vân Tiên Cổ Động" tức là núi Phượng Hoàng (nay thuộc xã Chi Ngại) là nơi đạo sĩ Huyền Vân - thuở Trần Sơ - tu tiên. Gần núi Phượng Hoàng có cảnh Côn Sơn là nơi Băng Hồ tướng quân Trần Nguyên Đán về ẩn cư và Nguyễn Trãi đem tài nữ Nguyễn Thị Lộ về nhàn cư ở đó.
8 - "Tinh Phi Cổ Tháp" ở trên núi Trì Ngôi, là một bà Nguyễn Thị Du người làng Kiệt Đặc. Bà là một vị tuyệt thế giai nhân, được mệnh danh là Sao Sa, đỗ Trạng Nguyên triều Mạc và là nữ khảo quan đời Trịnh.

Viên lăng tương truyền là nơi an táng Trần Hưng Đạo đã thấy nhiều di vật kiến trúc đương thời. Đáng chú ý là - tại một khu vực rộng hàng vạn mét vuông trên cánh đồng Vạn Yên đã phát hiện di tích của lò gốm đời Trần. ễ đây dễ tìm thấy những bát đĩa men ngọc, men nâu, hoa văn khắc chìm theo truyền thống Lý Trần và nhiều tiền đồng, trong đó có tiền Nguyên Phong thông bảo (1251-1258). Kiếp Bạc còn tiềm ẩn nhiều di vật có giá trị, sẽ còn tìm được trong tương lai do những nhà khảo cổ yêu mến di tích dân tộc sẽ tìm tòi, khám phá thêm.

Từ nhiều thế kỷ trước, kỷ niệm này mất của Trần Hưng Đạo đã trở thành ngày hội lớn của dân tộc. Trẩy hội đền Kiếp Bạc là niềm vui và tập quán của người Việt Nam. Hội bắt đầu từ 16 đến 20 tháng Tám âm lịch hàng năm. Trong những ngày này, hàng vạn người đến dự hội, hàng nghìn con thuyền đậu chật bến sông. Bên cạnh hội đền là hội chợ và các trò vui dân gian. Người ta mang đến đây hàng hóa đủ loại và đặc sản địa phương, thỏa mãn khách trẩy hội mua sắm kỷ niệm. Đến thăm đền là dịp ôn lại truyền thống anh hùng dân tộc, tìm hiểu lịch sử danh nhân và di tích quý báu của đất nước. Một sự trùng hợp hiếm có: Bắt đầu hội Kiếp Bạc (16 tháng Tám âm lịch) là kỷ niệm ngày mất của Nguyễn Trãi, kết thúc hội đền là ngày mất của đức Trần Hưng Đạo. (20 tháng 8).

Mấy chục năm qua, Hội Côn Sơn - Kiếp Bạc trở thành hội lễ liên hợp, mở rộng không gian và nội dung cho khách mọi nơi về tham dự hội. Từ Kiếp Bạc theo con đường ven núi khoảng 5 km về phía đông, vượt qua một thung lũng xanh tươi, êm đềm những làng quê, chúng ta đến côn sơn để thăm nhiều di tích còn lại, rồi trèo non, đến thăm Thạch Bàn, suối Côn Sơn, Thanh Hư Động v.v... để lòng lâng lâng nhớ tới Trúc Lâm Tam Tổ, tới Trần Nguyên Đán, đến Nguyễn Phi Khanh, nhất là tưởng niệm Nguyễn Trãi. Kết hợp 2 ngày lễ hội tưởng niệm hai danh nhân của đất nước, âu cũng là một truyền thống tốt đẹp nên theo.

Sông Bạch Đằng lịch sử

Sông Bạch Đằng - con sông dài khoảng 20 km - chảy qua địa phận thành phố Hải Phòng rồi theo cửa Nam Triệu đổ ra biển, trong lịch sử có ba lần chiến thắng ngoại xâm bằng thủy binh oanh liệt và lừng lẫy nhất. Lần thứ nhất: cách đây 1060 năm - vào năm 938 - Ngô quyền đã chỉ huy nghĩa quân đem những cọc gỗ lớn, đầu vạt nhọn và bọc sắt đóng ngầm ở đáy sông Bạch Đằng, chờ lúc thủy triều sắp rút thì cho các thuyền chiến nhẹ ra khiêu khích thuyền giặc, rồi vờ rút chạy cho đoàn thuyền giặc đuổi theo vào trận địa bãi cọc. Khi thủy triều rút nhanh, thuyền giặc to, nặng, đè vào cọc, va vào nhau, bị thủng, vỡ, đắm. Giặc thua to. Để ca ngợi chiến thắng này, diễn ca lịch sử có câu:

"Bạch Đằng một trận giao phong
Hoằng thao lạc phách, Kiều Công nộp đầu ..."

Hoằng Thao là thái tử, Kiều Công Tiễn là tướng của triều đình phong kiến phương Bắc, kẻ bị bắt, kẻ bị chém đầu. Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đã chấm dứt thời kỳ chiếm đóng và đô hộ hơn một nghìn năm của giặc Tàu phương Bắc, giành lại quyền độc lập, tự chủ cho quốc gia dân tộc, mở ra thời kỳ phục hưng về sau. Đến năm 981, triều đình phong kiến Tàu lại cho quân thủy bộ xâm lược Việt Nam. Lê Hoàn - Thập Đạo tướng quân đời nhà Đinh, cũng cho đóng cọc gỗ ngăn trên sông Bạch Đằng, lợi dụng thủy triều để nhử thuyền binh địch vào bãi cọc mà đánh. Bị thua trận, hai tướng giặc là Lưu Trừng, Giả Thực trốn về nước, bị triều đình nhà Tống xử tử. Chiến thắng Bạch Đằng lần thứ hai vào năm 981 có vai trò bảo vệ, củng cố, phát triển nền độc lập, tự chủ,tạo tiền đề cho giai đoạn Lý Trần rực rỡ tiếp sau đó (1009-1400).

Cách đây 710 năm (1288), Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã dùng thủy binh giành chiến thắng trên sông Bạch Đằng lần thứ ba, khiến thủy quân của giặc Mông Cổ (quân Nguyên) bị chết rất nhiều, tướng giặc là Ô Mã Nhi bị bắt. Đây là đối trận giữa thủy quân ta với một lực lượng thủy quân giặc đông hơn gấp bội. Bọn giặc này thuộc loại hiếu chiến và hùng mạnh nhất thời đại bấy giờ. Chúng đã từng phi vó ngựa chinh chiến đánh phá và xâm chiếm hàng chục nước Á, Âu, từ bờ Hắc Hải đến Thái Bình Dương. Trong vòng ba mươi năm (1258-1288), chúng ba lần xâm chiếm nước Việt thời Trần.

Lần thứ nhất, với 50 vạn quân do tướng giặc là U-Riang-Khan-đai chỉ huy, đã dùng kỵ binh và tài thiện xạ đánh thắng tượng binh của quân đội Việt Nam, khiến có lúc triều đình phải "sơ tán", kinh thành Thăng Long bị bỏ trống. Đến ngày 29-1-1258, tại Đông Bộ Đầu, vua Trần Thái Tôn và vị tướng trẻ 25 tuổi là Trần Quốc tuấn đã sử dụng bộ binh gọn nhẹ với vũ khí ngắn, đang đem bất ngờ đánh giặc, khiến chúng không kịp lên ngựa. Giặc thua, chúng rút về nước.

Lần thứ hai, đế chế phương Bắc cùng 50 vạn quân, chuẩn bị lương thực, lại sang vào năm 1258. Tới nơi, tướng giặc là Tu-gan (Thoát Hoan) cho đóng thuyền chiến tại chỗ, cấp tốc tổ chức lực lượng thủy quân lớn do Ô-Ma thống lĩnh. Vua Trần dẫn hơn 1000 thuyền phối hợp cùng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn qua đường sông Đuống vào Thăng Long để tổ chức rút quân đội và nhân dân kinh thành về Thiên Trường (Tức Mặc), cách Hà Nội ngày nay chừng 100km về phía Nam, lại cho tổ chức "Vườn Không Nhà Trống" ở khắp nơi. Có nhiều lương thực mang sang, giặc ăn được mấy tháng liền. Giặc có thủy quân, tướng Trần Bình Trọng của ta bị hy sinh ở sông Thiên Mạc. Biết là Thoát Hoan sẽ từ Bắc đánh xuống vùng Thiên Trường, Toa Đô từ phía Nam tiến đánh Trường Yên, tạo thế gọng kìm vô cùng nguy hiểm. Vua Trần và Trần Hưng Đạo phải tổ chức quân dân, dùng thuyền qua cửa Giao Hải rút ra ngoài biển khơi, ở đảo, ở ven bờ.

Qua bốn tháng, quân giặc lương cạn. Chúng lại không hợp thủy thổ bị ốm đau, giảm sút tinh thần chiến đấu. Trong vòng một tháng từ cuối tháng 5 đến cuối tháng 6 năm 1258, quân Việt Nam đã phản công giành chiến thắng vang dội, giải phóng kinh thành Thăng Long. Thoát Hoan sợ hãi, phải cải dạng, chui vào ống đồng cho bọn tay sai thân cận đưa về nước.

Nhưng ý chí xâm lược của đế chế phương Bắc chỉ bị bẻ gẫy khi chúng chịu thua lần thứ ba vào năm 1288. Lần ấy - cuối 1287 - Khu-Bi-Lai (Hốt Tất Liệt) cho 50 vạn quân, 500 chiến thuyền với hai vạn thủy binh do hai tướng lão luyện là Ô-Ma và Phào Tiếp chỉ huy. Cạnh đó là những đội kỵ binh mạnh. Tướng giặc Trương Văn Hổ trực tiếp chỉ huy đoàn thuyền chở lương thực nhiều gấp 5 lần số lượng thực mang sang lần xâm lược thứ hai, có đoàn thuyền của Ô-Ma hộ tống. Thoát Hoan vào được Vạn Kiếp.

Tháng 1-1288 tướng Trần Khánh Dư cho quân tập kích đánh tan toàn bộ đoàn thuyền lương hậu cần của Trương Văn Hổ. Tuy vậy giặc vẫn theo hai con đườn thủy, bộ tiến vào kinh thành Thăng Long cũng đã bỏ trống. T

hiếu lương thực, giặc rời Thăng Long về Vạn Kiếp. Tại đấy, chúng bị quân dân Việt Nam đánh tiêu hao liên tục, lại đói, bệnh. Quân giặc từ mạnh - bị dàn mỏng - thành yếu; từ chủ động tiến công biến thành bị động phòng ngự. Thoát Hoan buộc phải rút quân về nước. Nhưng vị tướng Trần Quốc Tuấn đã bố trí trận địa bãi cọc ở sông Bạch Đầng, phối hợp cùng bộ binh và các lực lượng quân sự khác bao vây quân địch. Những chiếc thuyền nhẹ của thủy quân Trần Lao như con thoi ra đánh đuổi những đoàn thuyền chiến của giặc vào bãi cọc nhọn đã va, vỡ, thủng, đắm giữa lúc thủy triều rút xuống. Giặc bị thua to chưa từng thấy.

Các nhà nghiên cứu lịch sử khảo cổ đã phát hiện được một số cọc gỗ và chày đóng cọc gỗ ở sông Bạch Đằng ngày ấy để trưng bày tại Viện Bảo Tàng Lịch Sử (Louis Finot - bờ sông). Sông Bạch Đằng là khúc tráng ca bất diệt trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.

Mai Lân