|

Tổng
Hội
Hải
Quân
&
Hàng
Hải
Việt
Nam
|
|
TÌNH HÌNH CHIẾM ĐÓNG TẠI
QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA
Trần Đỗ Cẩm
Hiện nay, Trung Cộng đang nuôi dã tâm muốn
thôn tính tất cả những hải đảo trong vùng biển Nam
Hải, trong đó có cả Quần Đảo Trường Sa của Việt
Nam. Nếu chiếm được những hải đảo này, quân
Trung Cộng sẽ có những căn cứ cách xa Hoa Lục
hàng ngàn cây số để mặc tình thao túng tại Biển
Đông. Tuy viện dẫn lý do "kinh tế" là tranh chấp
khai thác dầu hỏa để tìm cớ gây hấn, nhưng thực sự
Trung Cộng đang nhắm vào mục tiêu chiến lược,
muốn làm chủ Biển Nam Hải để khống chế và bóp
nghẹt các quốc gia trong vùng Đông Nam Á, đặc biệt
là Việt Nam. Kế hoạch của Trung Cộng cũng không
khác chiến thuật xâm chiếm các hải đảo tại Thái
Bình Dương của Quân Nhật vào hồi Đệ II Thế
Chiến.
Để giúp quí đọc giả tiện bề theo dõi những diễn
biến mới nhất tại Biển Đông, bài này đề cập tới phần
địa lý Quần Đảo Trường Sa và tình hình tranh chấp
hiện nay tai quần đảo rất quan trọng cho tương lai
của Việt Nam sau này. Tác giả thành thật cám ơn
Hải Quân Trung Tá Vũ Hữu San là Hạm Trưởng
Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư trong trận hải chiến
bảo vệ Quần Đảo Hoàng Sa vào năm 1974. Aba,
Loaita Island, Nam Yit Island, Sin Cowe Island,
I. VỊ TRÍ. Quần Đảo Trường Sa nằm về phía
Nam Biển Nam Hải (South China Sea). Quần đảo
này bao trùm một khu vực rộng lớn từ khoảng vĩ độ
4 đến vĩ độ 12 Bắc và kinh độ 109.30 đến 118 Đông.
Vùng biển này chiếm một diên tích khoảng 360.000
Km lớn hơn vùng biển Hoàng Sa (Paracels) vài chục
lần, và tương đương với diện tích lục địa Việt Nam.
Nếu tính từ Bãi Cỏ May tạân cùng hướng Đông -
Đông Bắc đến Bãi Tứ Chính tận cùng hướng Tây -
Tây Nam, khu vực Quần Đảo Hoàng Sa trải dài tới
gần 1.000 cây số. Vùng biển Trường Sa tuy rộng lớn,
nhưng diẹân tích các đảo, bãi, cồn hay đá nổi trên
mặt biển tổng cộng chỉ chừng 10 Km2. Trong nhóm
quần đảo này, Trường Sa là đảo quân trọng nhất nên
được dùng làm tên chung cho cả quần đảo và cũng là
tiêu điểm để xác định vị trí cũng như khoảng cách và
các quốc gia tiếp cận. Đảo Trường Sa nằm về hướng
Đông Đông Nam bờ biển Việt Nam, cách Vũng Tàu
chừng 450 cây số (300 hải lý), cách Cam Ranh chừng
375 cây số (250 hải lý), cách Quần Đảo Hoàng Sa
chừng 800 cây số (500 hải lý) và cách đảo Phú Quí
(hay Cù Lao Thu - Poulo Cecir de Mer) chừng 320
cây số (210 hải lý). So với các quốc gia lân cận khác,
Trường Sa cách Trung Hoa Lục Địa 1.500 cấy số về
hướng Nam, cách Phi Luật Tân gần 500 cây số về
hướng Tây và cách Sabah 320 cây số về hướng Tây
Bắc.
II. SỐ LƯỢNG CÁC HẢI ĐẢO.
Số lượng các hải đảo trong quần đảo được liệt kê
khác nhau, tuy theo quốc gia. Theo luật gia Michael
Bennett thuộc trường Đại Học Stanford, Hoa Kỳ, có
tới 500 hải đảo (island), cồn hay hòn (cay), đụn
(dune) và đá (rock) riêng biệt họp thành Quần Đảo
Trường Sa. Tuy vậy, chỉ có chừng 100 đảo, cồn, đụn,
đá được đặt tên. Trung Cộng lại cho rằng Trường Sa
chỉ có hơn 100 "đơn vị". Phi Luật Tân liệt kệ một
dang sánh 53 hòn đảo và cù lao trong một khu vực
chừng 65.000 dậm vuông của Trường Sa mà họ gọi là
vùng "Đất Tự Do" Freedomland. Thật ra, rất khó
xác định số lượng các đảo, cồn, đá, đụn, bãi ngầm...
thuộc Quần Đảo Trường Sa, vì ngoại trừ một số đảo
nổi như Trường Sa, Thái Bình, Song Tử Đông, Song
Tử Tây, Nam Yết... và một ít tiểu đảo hay bãi san hô,
hàng trăm các "đơn vị" khác đều bị ngập dưới nước
khi thủy triều dâng cao.
Việc xác định đúng vị trí của các hải đảo thường
trực nổi hẳn trên mặt nước rất quan trọng, vì đây là
căn bản để phân chia lãnh hải, thềm lục địa và hải
phận kinh tế của quốc gia làm chủ các đảo này. Hiẹân
nay, có nhiều tài liệu liệt kê những đảo, cồn, đá,
bãi... thuộc Quần Đảo Trường Sa. Theo quyển
"Atlas for Marine Policy in Southeast Asian Sea"
do University Of Caliornia Press ấn hành, Trường
Sa gồm 33 "đơn vị. Chia thành 4 loại như sau :
* Hải đảo (Island) gồm 9 đơn vị : Flat Island, Itu
Aba, Loaita Island, Namyit Island, Siu Cowe Island,
Spratly Island, Thitu Island, West York Island.
* Hòn, Cồn (Cay) gồm 15 đơn vị : Alicia-Annie
Reef, Amboyma Cay, Commodore Reef, Grierson
Reef Irving Reef, Lankian Cay, Loaita Cay, London
Reef Cay, Mariveles Reef, Northeast Reef, Pearson
Reef NE, Pearson Reef SW, Southwest Cay, Sand
Cay, Sandy Cay.
* Đụn (Dune) gồm 2 đơn vị : Gaven Reef, Landow ne Reef.
* Đá (Rock) gồm 7 đơn vị :Barque Canada Reef,
Firey Cross Reef, Great Discovery Reef, London
East Reef, Luoisa Reef, Royal Charlot Reef,
Swallow Reef.
III. TÊN CÁC HẢI ĐẢO.
Về danh của Quần Đảo Trường Sa, sử ta chép là
Vạn Lý Trường Sa hay Đại Trường Sa, gọi tắt là
Trường Sa. Trên hải đồ quốc tế được ghi là Soratley
(hay Spratly) Islands (hay Archipelago) hoặc gọi tắt
hơn là Spratlies. Người Pháp gọi là Archipel des Iles
Spratly. Người Trung Hoa gọi là Nam Sa (Namsha)
hay là Nam Uy (Nam Wei). Phi Luật Tân gọi là
Kalayaan. Trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, người Nhật
gọi là Shinnan Guto.
Một số các đảo thuộc Quần Đảo Trường Sa được
ông cha ta đặt tên dựa theo các tên lịch sử như :
- Tứ Chính. Trước kia là tên của một phường
của Cù Lao Ré, thuộc Phủ Quảng Ngãi. Theo sách
Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn, dân cư phường
Tứ Chính sống bằng nghề trồng đậu (Tứ Chính
phường cư dân đậu điền). Từ cửa biển An Vinh ra
đến đó phải đi mất bốn trống canh. Cũng theo sách
trên, ông Lê Quí Đôn có nói tới một địa danh nữa là
Tứ Chánh, tên của một thôn thuộc Phủ Bình Thuận
(Phan Thiết ngày nay). Người dân thôn này cùng với
người dân làng Cảnh Dương được tuyển chọn để gia
nhập đội Bắc Hải. Họ chuyên đi thám sát và thu
lượm hải sản thuộc Quần Đảo Trương Sa và Hoàng
Sa của Việt Nam.
- Phúc Nguyên và Phúc Tần. Là tên của hai vị
Chúa anh hùng của triền Nguyễn, Phúc Nguyễn (hay
Phước Nguyễn, 1562 - 1635) tức Sãi Vương là Chúa
thứ hai của Nhà Nguyễn. Phúc Tần (hay Phước Tần,
1619 - 1687) tức Chúa Hiền là Chúa thứ tư của Nhà
Nguyễn. Ông rất thạo thủy chiến, đã đánh bại binh
thuyền Hòa Lan đến cướp phá vào năm 1644. Chúa
Hiền chiếm đất của người Chàm, mở rộng bờ cõi tới
tận vùng Nha Trang, Phan Rang.
- Quế Đường. Tên hiệu của ông Lê Quí Đôn
(1726 ố 1784 là một nhà Bác Học thời Lê. Ông viết
nhiều tác phẩm về lịch sử, địa lý và nhân văn nước
ta. Trong các tác phẩm của ông, có đề cập tới địa lý
vùng Hoàng Sa và Trường Sa.
- Huyền Trân. Là tên của con gái Vua Trân
Nhân Tôn, Công Chúa Huyền Trân được gả cho Vua
Chiêm là Chế Mân để đổi lấy hai Châu Ô. Lý như là
đồ sính lễ. Đất này sau được đổi tên là Thuận Châu
và Hóa Châu hay gọi tắt là Thuận Hóa. Tên "Huế"
ngày nay do chữ "Hóa" mà ra.
Theo bản đồ quốc phòng Hoa Kỳ (số G.9237.S.63
năm 1992), quân trú phòng Việt Cộng hiện đóng
trên các Bãi Tứ Chính, Phúc Nguyên, Quế Dương và
Vũng Mây. Các tài liệu Hoa Kỳ mới đây cũng cho
biết Việt Nam đang phòng thủ trên những nhà sàn ở
một số bãi đá ngầm khác. Đồn phòng ngự chính nằm
trên hải đảo Trường Sa.
IV. HẢI ĐẢO TRƯỜNG SA.
Đảo Trường Sa do Việt Nam chiếm đóng, cùng
với Ba Bình hay Thái Bình (Itu Aba) do Đài Loan
chiếm đóng, là hai đảo lớn nhất trong Quần Đảo
Trường Sa.
Đảo Trường Sa nằm giữa những bãi và đá vùng
Tây Nam Trường Sa, là đảo lớn và quan trọng nhất
trong vùng. Đảo này dài khoảng 750 mét, rộng 400
mét, cao 2 mét khi nước thủy triều cao nhất. Diện
tích này có thể thích hợp với việc thiết lập một phi
đạo cho phi cơ hạng nhẹ. Trên đảo không có cây lớn
nhưng rau sâm mọc rất nhiều.
Vào năm 1970, quân bố phòng Việt Nam Cộng
Hòa thiết lập nơi cư trú rộng rải, tiện nghi, chỉ thua
cơ sở tại đảo Nam Yết. Dầu phía Tây của đảo có một
cầu tàu để các tiểu đỉnh của Chiến Hạm có thể ra vô
tiếp tế. Cầu tàu này hiện nay đã được làm lớn thêm
mặc dù bị Trung Cộng phản đối. Vì trên đảo không
có cây cao nên khó ngụy trang và che dấu những
công sự phòng thủ. Những loại cây thông dụng thuộc
vùng duyên hải Việt Nam như phi lao, bàng bể.... có
lẽ sẽ rất thích hợp nếu được trồng trên đảo này.
Tưởng cũng nên nhắc rằng đảo Thái Bình (Itu Aba)
hiện do Đài Loan chiến đóng được trồng nhiều cây
cao rất sầm uất, che kín mọi cơ cấu phòng thủ trên
đảo.
Khu vực biển từ đảo Trường Sa xuống Bãi Tứ
Chính tuy chỉ có hai nước Việt Nam và Trung Cộng
dành chủ quyền nhưng đang trong vòng tranh chấp
rất quyết liệt. Dường như chiến thuật của Trung
Cộng là tiếp tục xua quân chiếm đóng các đảo lân
cận để bao vây, trước khi tấn công quân Việt Nam
phòng thủ tại đảo Trường Sa.
Để gián tiếp xác nhận chủ quyền, Việt Nam hiện
đã thiết lập một số hải đăng trên đảo Trường Sa và
các đảo phụ cận. Ngoài việc giúp các tàu bè trong
vùng định hướng trong lúc hải hành, các hải đăng
cũng nói lên chủ quyền của quốc gia tạo dựng.
V. TRANH CHẤP TẠI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA.
Về mặt kinh tế, từ thập niên 70, nhiều cuộc
thăm dò đã cho thấy Quần Đảo Trường Sa có triển
vọng dầu lửa rất nhiều hứa hẹn. Trong thời gian gần
đây, với những tàu nghiên cứu và giàn khoan ngày
càng tân tiến, người ta thêm lạc quan và tin tưởng
nhiều hơn nữa. Với phương tiện khai thác tối tân, có
người ước lượng số dầu dự trữ tại vùng biển Trường
Sa có thể lên tới hàng trăm tỉ thùng (barrel - mỗi
barrel tương đương 42 gallons tức là 200lít).
Về phương diện chiến lược, vị trí Quân Đảo
Trường Sa lại càng quan trọng. Có thể nói quốc gia
nào kiểm soát được vùng biển Trường Sa sẽ coi như
là Bá Chủ toàn vùng Biển Nam Hải. Lý do vì Trường
Sa nằm giữa hải trình lưu thông huyết mạch giữa các
quốc gia trong vùng Á Châu và cả tuyến viễn dương
nối liền Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Riêng
đối cới Việt Nam, vị trí của Trường Sa lại càng quan
trọng. Dưới áp lực nặng nề của Trung Cộng với hơn
1 tỷ dân lúc nào cũng đè nặng trên phương Bắc, và
vùng lục đia Miên Lào cấn sau lưng, Biển Đông trở
thành một lối thoát duy nhất để Việt Nam phát
triển. Có thể nói Biển Đông đối Viết Nam như mặt
tiền của một căn nhà. Nếu mặt tiền này bi Trung
Cộng lấy mất, căn nhà Việt Nam sẽ bị đe dọa và
khống chế! Khi đặt kế hoạch xâm lăng Biển Đông,
mục tiêu "nổi" của Trung Cộng là bành trướng về
kinh tế (dầu Lửa), nhưng mục tiêu "thật" của họ là
bao vây, phong tỏa các quốc gia toàn vùng Đông
Nam Á.
Vào năm 1982, luật về hải phận và chủ quyền
lãnh hải đã được thay đổi và áp dụng cho các quốc
gia trên toàn thế giới. Theo luật mới này, tất cả các
nước còn biển đều được tuyên bố chủ quyền lãnh hải
12 hải lý hải phận quốc gia và 200 hải lý hải phân
kinh tế độc quyền kể từ đất liền. Thấy điều luật này
không phù hợp với giấc mộng xâm lăng của mình, chỉ
có Trung Cộng kịch liệt phản đối, trong khi các quốc
gia khác trên thế giới hoàn toàn tán thành.
VI. TRƯỜNG SA DƯỚI THỜI VIỆT NAM CỘNG
HÒA.
Khi người Pháp trao trả nền độc lập cho Việt
Nam, mặc dù trong thời kỳ phôi thai của một quốc
gia mới được thành lập, Việt Nam đã xác nhận chủ
quyền tại hai Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Điển hình vào ngày 6 và 7 tháng 9 năm 1951, Việt
Nam đã tham dự Hội Nghị Quốc Tế tại San
Francisco cùng với 50 quốc gia khác. Trong hội nghị
này, Thủ Tướng Trần Văn Hữu đã chánh thức lên
tiếng xác nhận chủ quyền của Việt Nam tại hai Quần
Đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Không có một quốc gia
nào phản đối. Như vậy, mặc nhiên chủ quyền của
Việt Nam đã được quốc tế công nhận.
Đến thời Đệ I Cộng Hòa, Tổng Thống Ngô Đình
Diệm cũng ký sắc lệnh số 193-NV vào ngày 22 tháng
10 năm 1956 sát nhập Quần Đảo Trường Sa vào lãnh
thổ Phước Tuy.
Từ năm 1960 đến năm 1967, Hải Quân VNCH
phái nhiều chiến hạm thường xuyên tuần tiễu cũng
như hoàn tất đặt bia chủ quyền trên nhiều đảo (Song
Tử Đông, Song Tử Tây...) trong Quần Đảo Trường
Sa. Đến tháng 7 1973, VNCH ký giấy phép cho các
công ty ngoại quốc thăm dò và khai thác dầu hỏa gần
vùng Trường Sa. Chính vì sự kiện trên nên Trung
Cộng bắt đầu phản đối và tranh giành với những
luận điệu hoàn toàn vô căn cứ. Tháng 12 năm 1973,
Tiểu Khu Phước Tuy biệt phái một đơn vị Địa
Phương Quân ra Quần Đảo Trường Sa, đồn trú trên
các đảo Trường Sa và Nam Yết. Các đơn vị Địa
Phương Quân này thường xuyên được những Chiến
Hạm Hải Quân yểm trợ và tiếp tế.
Vào tháng 1 năm 1974, Trung Cộng cưỡng
chiếm Quần Đảo Hoàng Sa của VNCH sau một trận
hải chiến dữ dội. Để đề phòng quân Trung Cộng tiến
xa hơn về hướng Trường Sa. VNCH tăng cường
thêm nhiều Chiến Hạm tuần tiễu cũng như quân trú
phòng tại các đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết,
Sinh Tồn, An Bang và các đảo lớn phụ cận.
Tóm lại, trong khoảng thời gian suốt một phần
tư thế kỷ, các chiền sĩ Hải Quân VNCH đã chu toàn
bổn phận và trách nhiệm do Tổ Quốc trao phó. Mặc
dù bận rộn hành quân tiêu diệt bọn Cộng sản trong
nội địa, máu của họ đã đổ tại các hải đảo để ngăn
chận kẻ thù Phương Bắc.
VII. TRƯỜNG SA ĐỐI VỚI MÃ LAI Á.
Trước năm 1979, Mã Lai Á chưa hoặc không
chánh thức lên tiếng đòi chủ quyền tại Quần Đảo
Trường Sa. Nhưng từ khi nguồn tài nguyên dầu hỏa
trong vùng trở nên hứa hẹn, và nhất là khi các quốc
gia Việt Nam, Đài Loan, Phi Luật Tân tăng cường
lực lượng quân sự trên
các hải đảo, Mã Lai Á đã nhảy vào vòng tranh chấp.
Từ năm 1983 cho đến nay, Mã Lai Á đã kiểm
soát được một số đảo như Bãi Thám Hiểm, Bãi Kỳ
Vân, Bãi Keo Ngựa và một số bãi phụ cận. Ngoài ra,
Mã Lai Á còn công bố chủ quyền trên 12 đảo và bãi
phụ cận. Ngoài ra, Mã Lai Á còn công bố chủ quyền
12 đảo và bãi đá ngầm khác trong Quần Đảo Trường
Sa như Đảo Louisa Reef thuộc chủ quyên Brunei (1).
Đảo An Bang, Đảo Đông Đô, Bãi Thuyền Chài và
một số Tiểu đảo trong vùng.
Trên thực tế, ngoại trừ đảo Louisa Reef, tất cả
các đảo và bãi đá ngầm Mã Lai Á kiểm soát hoặc đòi
chủ quyền đều thuộc lãnh thổ Việt Nam.
VIII. TRƯỜNG SA ĐỐI VỚI PHI LUẬT TÂN.
Trước đây, Phi Luật Tân không có quân trú
phòng trong Quần Đảo Trường Sa. Lợi dụng lúc
QLVNCH bận hành quân chống bọn Cộng sản xâm
lược, vào năm 1968 Phi Luật Tân đã đưa quân chiếm
đóng bất hợp pháp một số đảo của Việt Nam. Vào
thời điểm đó, trận chiến tại Việt Nam trở nên rất
khốc liệt khiến Hải Quân VNCH không còn đủ lực
lượng tuần tiễu nghiêm ngặt các hải đảo như trước.
Các đảo Phi Luật Tân đưa quân chiếm đóng bất hợp
pháp gồm có : Song Tử Đông, Thị Tứ, Loại Ta, West
York. Một thời gian sau đó, Phi chiếm thêm hai đảo
khác là Bình Nguyên (Flat) và Vinh Viễn (Nanshan).
Hiện nay, Phi Luật Tân cũng rao riết lên tiếng
đòi thêm chủ quyền trên một số đảo khác như : Thái
Bình (Itu Aba) do Đài Loan chiếm đóng và Sơn Ca,
Nam Yết, Sinh Tồn, An Bang, Hòa Sập (Pearson
Reef thuộc chủ quyền là điều thật phi lý.
IX. TRƯỜNG SA ĐỐI VỚI ĐÀI LOAN.
Đài Loan vẫn duy trì và chiếm đóng đảo Thái
Bình (ItuAba). Đây l Đảo lớn nhất trong Quần Đảo
Trường Sa, rộng 36 mẫu tây, cách đảo Trường Sa
332 cây số về hướng Đông.
Vào năm 1964, khi phục vụ trên Hộ Tống Hạm
Hoa Kỳ (PCE 09) do HQ. Đại Úy Nguyễn Xuân Sơn
(sau này là Đại Tá Tư Lệnh Hạm Đội) làm Hạm
Trưởng, chúng tôi có dịp cùng Hộ Tống Hạm PCE 08
và một Hải Vận Hạm (LSM) chở bia chủ quyền ra
Trường Sa để đặt trên các đảo Sông Tử Đông và
Song Tử Tây. Lúc đó, tại Trường Sa, hải đội VNCH
có nhận diện một số Chiến Hạm Đài Loan trong
vùng đang yểm trợ cho Đảo Thái Bình. Chúng tôi
quan sát đảo này khá trù phú với vây cối rất cao che
kín những công sự phòng thủ xây cất rất kiên cố với
nhiều ụ súng đại bác chĩa ra ngoài biển. Có thể nói
đây là đảo được phòng thủ vững chắc nhất trong
Quần Đảo Trường Sa.
Đảo Itu Aba đã do Trung Hoa Dân Quốc chiếm
đóng từ năm 1956, ngay sau khi Đệ II Thế Chiến
chấm dứt. Vào thời điểm này, quân Nhật trú phòng
trên đảo đã phải đầu hàng và bi giải giới. Đến năm
195ó. Đài Loan đổi tên đảo này là Taiping Dao.
Hiện nay, Đài Loan đã hoàn tất xây cất một căn
cứ Hải Quân và cầu tàu khá kiên cố trên đảo. Một
Tiểu Đoàn Thủy Quân Lục Chiến đồn trú thường
trực tại đây. Ngoài ra, các Khu Trục Hạm và Tuần
Dương Hạm trang bị hỏa tiễn chống Chiến Hạm
SSM Hstung Feng 1/11 do Đài Loan chế tạo cũng
thường trực tuần tiểu.
X. TRƯỜNG SA ĐỐI VỚI TRUNG CỘNG
Dù hay to tiếng giành chủ quyền tai Trường Sa,
nhưng trước đây Trung Cộng không có quân trú
phòng và bia chủ quyền bất cứ trên đảo nào tại
Quần Đảo Trường Sa. Đây là một sự thật Trung
Cộng không thể nào chối cãi được. Ngoài ra, Trường
Sa cách Hoa Lục khoảng 1.600 cây số nên Trung
Cộng đòi chủ quyền là điều thật phi lý.
Trung Cộng còn bị bất lợi về mặt pháp lý với qui
ước mới về luật hải phân. Vì vậy, Trung Cộnf chỉ còn
cách làm càn, tư động chiếm và dựng bia chủ quyền
bất hợp pháp trên một số bãi đá ngầm thuộc chủ
quyền của Việt Nam. Mục đích của họ là tạo bằng
chứng để lên tiếng với công luận thế giới rằng họ
cũng có chủ quyền tại Trường Sa. Đây là một hành
động cố để hợp thức hóa chủ quyền cho phù hợp với
sự thay đổi luật hải phận và chủ quyền lãnh hải mới
được ban hành vào năm 1982.
Vào tháng 2 năm 1988, Trung Cộng đưa Hải
Quân chiếm Bãi Chữ Thập (Fiery Cross Reef) và
thiết lập trạm kiểm soát cùng bia chủ quyền. Bãi này
gồm các hòn đá ngầm chìm dưới mặt biển. Tiếp theo,
họ chiếm thêm một số bãi ngầm khác như: Chau
Viên (Cuarteron Reef) Đá Đền Cây Cỏ (Gaven
Reef), Bãi Caman Reef, Đá John Reef, Đá Eldad
Reef, Đá Subi Reef. Sau khi chiếm xong, Trung
Cộng lập tức đắt bia chủ quyền và các trạm kiểm
soát tại những vị trí trên.
Vào tháng 3 năm 1988, Hải Quân Trung Cộng và
Việt Cộng đã đụng độ tại vùng đảo Gạc Ma. Trong
trận hải chiến này, một tàu vận chuyển SL.4 của
Việt Cộng đã bị bắn chìn , một tàu SL.4 khác và một
Dương Vận Hạm (LST) của Việt Cộng cũng bị hư hại
nặng. Chiếc Dương Vận Hạm Hạm Nguyên là một
Chiến Hạm mang số HQ.504 trước đây của VNCH.
Hiện nay, Trung Cộng đã chiếm đóng trên 7 bãi
đá ngầm và cồn san hô (2). Họ cũng ngang ngược
tuyên bố đòi chủ quyền trên toàn vùng Biển Nam
Hải. Lập luận của Trung Cộng là hàng ngàn năm
trước, các nước trong Vùng Đông Nam Á đều thuộc
Trung Hoa nên Quần Đảo Trường Sa cũng là của
Trung Quốc! Dĩ nhiên thái độ hung hăng gây hấn
của Trung Cộng đã bị Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã
Lai Á, Brunei phản đối dữ dội. Riêng Đài Loan chỉ
phản ứng lấy lệ. Có lẽ Đài Loan trong tương lai cũng
thuộc về Trung Cộng chăng.
Theo các nhà phân tách về luật học Tây
Phương,
Trung Cộng hiện nay đang gặp khó khăn lớn về mặt
pháp lý trong việc tranh chấp tại Quần Đảo Trường
Sa. Những dữ kiện và lập luận của Trung Cộng đưa
ra hoàn toàn không phù hợp với các điều luật về lãnh
hải. Chính vì vậy nên Trung Cộng bắt buộc phải
dùng "lý lẽ kẻ của mạnh" để đạt tham vọng bành
trướng ngoài Biển Đông của mình.
Nếu để ý, chúng ta thấy tại Trường Sa, Trung
Cộng rõ ràng muốn gây hấn với Việt Nam trước.
Các hải đảo hay bãi đá hiện do Trung Cộng chiếm
đóng đều gần sát với những đảo có quân Việt Cộng
đồn trú. Hó cố ý gây hấn để chờ dịp "thanh toán"
người anh em xã hội chủ nghĩa trước kia. Trận hải
chiến vào năm 1988 là một bằng cớ. Khi đã trừ được
Việt Cộng là đối thủ lợi hại nhất trong vùng để dằn
mặt, các quốc khác nếu có phản ứng cũng sẽrất uếu
ớt, không đáng kể.
XI. TRƯỜNG SA ĐỐI VỚI VIỆT CỘNG
Cưỡng chiếm được Miền Nam, Việt Công đưa
tàu chiến tới chiếm 6 đảo nổi trước đây do Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa chiếm đóng tại Trường Sa. Sau
đó họ đưa thủy binh đến đồn trú. (Ghi chú: Việt
Cộng không dùng danh từ "Thủy Quân Lục Chiến"
mà gọi là Lực Lượng Lính Thủy Đánh Bộ, hay thủy
Binh".
Kể từ năm 1982, cùng với sự gia tăng của tiềm
năng dầu hỏa tại Biển Đông, Việt Cộng tăng cường
thêm quân trú phòng và xây dựng thêm căn cứ quân
sự cũng như các tiền đồn trên các đảo tại Quần Đảo
Trường Sa. Đảo quan trọng nhất và cũng là nơi đặt
Bộ Chỉ Huy Tổng Quát toàn Vùng là Đảo Trường
Sa. Việt Cộng cũng đã xây xong một phi đạo dài 500
mét cho loại vận tải cơ hạng nhẹ AN-24 và các lực
lượng Trực Thăng do Nga Sô chế tạo. Một đảo quan
trọng khác là là An Bang cũng mới được xây cất một
cầu tầu và nhiều công sự phòng thủ khá kiên cố.
Đảo Song Tử Tây được thiết trí các giàn phóng pháo
cũng như súng phòng không hạng nặng. Ngoài ra,
các đảo quan trọng như Sinh Tồn (3), Nam Yết và
Sơn Ca cũng được tăng cường phòng thủ đáng kể.
Ngoài các đảo nổi nêu trên, Việt Cộng cũng đă
thiết lập các trạm nỗi và nhà sàn trên mười lăm (15)
bãi đá ngầm là điều rất khó khăn và rất tốn kém.
Việt Cộng đã thực hiện việc xây cất dựa theo cách
làm của Trung Cộng vào năm 1988.
Trong cuộc tranh chấp với đối thủ chính là
Trung Cộng tại Trường Sa, Việt Công đang phải
đương đầu với nhiều khó khăn. Lãnh đạo bất lực,
kinh tế trong nước bị trì trệ, dân chúng thiếu đoàn
kết vì đã quá chán ngán chế độ Cộng sản, tham
nhũng, hối lộ, chậm tiến...... là những nguyên do
chính khiến Việt Nam ngày nay yếu kém về mọi
phương diện. Về mặt quân sự, Hải Quân Việt Cộng
lại càng không phải là đối thủ của Trung Cộng. Hiện
nay, Việt Cộng chỉ có vài Hộ Tống Hạm không chịu
được sóng lớn kiểu Petya do Nga Sô chế tạo hàng
mấy chục năm nay được coi là "tối tân" nhất cùng
một số tàu bè cũ kỹ thiếu cơ phận thay thế sửa chữa
do VNCH để lại. Với lực lượng Hải Quân như vậy,
tàu Hải Quân Việt Cọâng khi ra biển chưa bị sóng
đánh chìm là may, còn nói gì đến việc "Hải Chiến"
với các Chiến Hạm Trung Cộng. Hơn nữa, tinh thần
"Thủy Binh" Việt Cộng tại Trường Sa cũng trong
tình trang rất sa sút, không khác gì lính thú đi đầy!
Một bất lợi lớn về mặt ngoại giao là chính Việt
Cộng trước đây đã công nhận Quần Đảo Hoàng Sa
và Trường Sa là của Trung Cộng. Vào năm 1958,
chính tên Thủ Tướng Phạm Văn Đồng đã gởi công
văn chánh thức cho quan thầy Trung Cộng xác nhận
điều này. Đúng là hành động Phản Quốc, cổng rắn
cắn gà nhà của tập đoàn Việt Cộng. Chúng sẽ phải
trả lời thế nào với quốc dân trước tội lỗi tầy trời này
?
Thật ra, theo công pháp quốc tế, cả hai Quần
Đảo Hoàng Sa và Trương Sa đều thuộc về Việt Nam
Cộng Hòa trước đây , một quốc gia được thế giới
công nhận. Hơn nữa, các quần đảo đều nằm dưới vi
tuyến 17 độ Bắc và có bia chủ quyền của VNCH
được Liên Hiệp Quốc công nhận. Như vậy, văn bản
bán nước thừa nhận chủ quyền của Trung Cộng tại
Hoàng Sa và Trường Sa do tên Phạm Văn Đồng ký
chỉ là một tờ giấy ký chỉ là một tờ giấy lộn nhằm nịnh
bợ đàn anh xã hội chủ nghĩa của mình. Văn bản này
hoàn toàn phi pháp và vô giá trị.
XII. KẾT LUẬN: QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ
HOÀNG SA THUỘC VỀ VIỆT NAM.
Theo các dữ kiện lịch sử, các Quần Đảo Hoàng
Sa và Trường Sa đều thuộc lãnh thổ Việt Nam từ lâu.
Tuy nhiên, chế độ Cộng sản tại Việt Nam đã làm cho
quốc gia yếu kém khiến Trung Cộng lên nước bắt
nạt. Chúng tôi tin rằng chế độ lỗi thời Cộng sản tại
Việt Nam sẽ bị đào thải trong tương lai không xa.
Lúc đó, quyền lãnh đạo quốc gia chống ngoại xâm sẽ
do toàn dân Việt Nam quyết định. Tinh thần Diên
Hồng "Diệt Hán Phá Thanh" sẽ được đề cao khiến
toàn dân Việt đoàn kết trong việc bảo toàn lãnh thổ.
Mới đây có tin Việt Cộng và Trung Cộng vừa ký
thỏa hiệp hợp tác cùng khai thác dầu hỏa tại vùng
Bãi Tứ Chính (Trung Cộng gọi là Wan An Bei).
Vùng này chỉ cách bờ biển Việt Nam không đầy 200
cây số trong khi cách Hoa Lục hàng ngàn cây số! Rõ
ràng vùng này thuộc quyền sở hữu của Việt Nam.
Việt Cộng đã phải nhượng bộ vì chúng quá yếu kém
không đương đầu nổi với con cóc già Trung Cộng.
Tuy đã xuống nước, nhưng chắc chắn bọn Trung
Cộng vẫn sẽ không để Việt Cộng yên thân. Trong
tương lại. "được đằng chân, lấn đằng đầu", Trung
Cộng thế nào cũng ép Việt Cộng phải nhường toàn
bộ vùng Trường Sa và Biển Đông cho chúng.
Bài học lịch sử của Việt Nam từ ngàn xưa đã ghi
rõ: tuy cần hòa hiếu với Trung Hoa tại Phương Bắc,
nhưng lúc nào cũng phải đủ mạnh để không bị kẻ thù
bắt nạt. Đó là lẽ sống còn của Việt Nam. Muốn bảo
vệ toàn vẹn lãnh thổ do tổ tiên dầy công xây đắp,
muốn không bị ức hiếp ngoài Biển Đông, Việt Nam
cần phải mạnh cả về Kinh Tế lẫn Quân Sự để ngoại
bang kính nể và có thể tự bảo vệ mình. Việc này chỉ
có thể xẩy ra khi chế độ Cộng sản bán nước không
còn tồn tại trên dải đất hình chữ S Thân yêu. Lúc
đó, người Việt trong và ngoài nước mới có cơ Đoàn
Kết chống ngoại xâm.
----------------------
Chú thích :
(1). Brunei là một tiểu quốc cũng đang đòi chủ
quyền vì Bãi Louisa gần họ nhất.
(2). Theo tạp chí AFM (December 1993) thì
Trung Cộng đã chiếm đảo Sinh Tồn của Việt Nam
vào cuối năm 1988.
(3). Theo tài liệu của báo chí Việt Cộng thì Việt
Nam đang có quân trú đóng tại đây.
|
|
|