Tổng Hội Hải Quân và Hàng Hải Việt Nam Cộng Ḥa     

 Tiếng nói Hải Quân và Hàng Hải Việt Nam

© Copyright Tổng Hội HQHH/VNCH 2007

Home |Trang Chủ |Tin Hải Sử |Tin Biển 

Trung-Tâm Huấn-Luyện Hải-Quân Nha-Trang


Nguyễn-Tấn-Đơn






I - Thành-Lập Và Chuyển-Giao :

Trung-Tâm Huấn-Luyện Hải-Quân Nha-Trang nằm trên đường Duy-Tân nối dài về hướng Chụtt, mặt tiền hướng ra biển Nhatrang, bên cạnh rào trái mặt Bắc là nhà máy điện. Cạnh rào phải mặt Nam là trường trung-học Kỷ-Thuật Nha-Trang. Mặt sau là khu gia-binh của Lực-Lượng Đặc-Biệt. Trung-Tâm được Hải-Quân Pháp khởi công xây cất vào tháng 11 năm 1951, giai-đoạn đầu th́ khuôn-viên quân-trường gần như là một h́nh vuông mỗi cạnh khoảng 400 mét. Công-tác xây cất được hoàn tất vào tháng 7 năm 1952. Hải-Quân Pháp xử-dụng trung-tâm này vào việc huấn-luyện. Sau Hiệp-Định GENÈVE ( 20.07.1954 ) Pháp chuyển-giao cho Hải-Quân Việt-Nam quản-lư vào tháng 7 năm 1955. Khi đó Bệnh-Xá trung-tâm là một bệnh-viện tư-nhân của người Pháp đă có sẵn và hoạt-động từ trước “ gọi tên là Bệnh-viện Chapeau “ cũng trao lại cho Việt-Nam và được sát-nhập vào trường Hải-Quân Nha-Trang. Từ năm 1956 trở về sau trung-tâm đă đào-tạo trực-tiếp những khóa Sĩ-Quan ngành chỉ-huy và ngành cơ-khí. Tiêu-chuẩn được chọn-lựa để được theo học các khoá SQ, HSQ, ĐV phải qua một cuộc thi tuyển. Thời-gian thụ-huấn tùy theo nhu-cầu. Đối với các khóa Sĩ-Quan th́ chương-tŕnh huấn-luyện từ 6 tháng đến 2 năm. Trong giai-đoạn đầu Pháp đào-tạo Sĩ-Quan trên các chiến-hạm và tại “ Brest “ bên Pháp. Cuối năm 1952 đến 1956 một số Sĩ-Quan Việt-Nam được tiếp-tục đào-tạo tại Pháp và một số tại TTHL/NT; từ khóa 7( 1956 đến 1957 ) cho đến khóa 26 th́ hoàn toàn được đào-tạo tại quân-trường Nha-Trang. Năm 1958 các Cố-Vấn-Mỹ đă đến làm việc trợ-giúp huấn-luyện, dạy Anh ngữ, trang-bị trợ-huấn-cụ, cung-cấp tài-liệu cho thư-viện theo tiêu-chuẩn của Hải-Quân Hoa-Kỳ. Trong thời gian thụ-huấn th́ cũng có chương-tŕnh tham-quan và thực-tập hải-nghiệp trên các chiến-hạm Việt-Nam cũng như các chiến-hạm ngoại quốc ghé vào vịnh Nha-Trang.
Cuối năm 1961, trong chương-tŕnh trang-bị cho các đơn-vị Hải-Thuyền ( sau gọi là Duyên-Đoàn ) của các Duyên-Khu 1 và Duyên-Khu 2 ( sau gọi là Vùng Duyên-Hải ). Khoảng 40 ghe có trang-bị máy và buồm từ Saig̣n ra miền Trung ghé vào bến Cầu-Đá Nha-Trang cho Sinh-Viên thực-tập. Giám-Đốc Quân-Huấn kiêm Tiểu-Đoàn-Trưởng Sinh-Viên lúc bấy giờ là HQ Tr/Uư Đỗ-Kiểm ( Khóa 3 Brest sau vinh-thăng Đ/Tá ), cùng một số Cán-Bộ và Huấn-Luyện-Viên dẫn Sinh-Viên đi hành-quân đổ-bộ đảo Ḥn-Tre Nha-Trang bằng thuyền. Tất cả Sinh-Viên chia nhau từng nhóm cứ 2 đến 4 người lên một ghe. Ghe bắt đầu căn buồm chạy quanh các đảo trong vịnh Cầu-Đá, cuối cùng đổ-bộ vào băi Bắc của Ḥn-Tre. Đoàn quân được trang-bị vũ-khí cá-nhân súng GARANT M1, đạn dược đầy đủ, máy truyền-tin PRC 10 cho mỗi Trung-Đội. Vào tới nơi, đoàn quân được lệnh cấm-trại, từng Trung-Đội nằm rải-rác trên các triền đồi. Đến 9 giờ tối hôm đó cuộc hành-quân bắt đầu tiến quân theo con đường ṃn qua băi Nam. Sau đó băng rừng leo núi suốt đêm để đến mục tiêu là Hải-Đăng Ḥn-Tre. Sáng ngày hôm sau tất cả xuống ghe tại bờ Nam và trở về lại quân-trường.
Ngoài ra chương-tŕnh học cũng có chu-kỳ cứ 3 tháng cho Sinh-Viên đi di-hành. Vai mang balô, súng cá-nhân GARANT M1 tổng-cộng trọng-lượng mỗi người khoảng 15 Kg. Bắt đầu đi bộ từ Trung-Tâm xuống Chụtt, Cầu-Đá, ṿng theo đường ṃn quanh núi qua khu B́nh-Tân Cửa-Bé ra tới Ngă-Ba-Chụtt trở về trường. Mục-đích của việc đi bộ là tạo cho Sinh-Viên thêm sức chịu đựng để khi đi tầu bớt say-sóng. Có khóa đi di-hành qua Đồng-Đế rồi trở về.
Năm 1962 có tầu ngầm Hoa-Kỳ USS Queen-Fish ghé bến cho Sinh-Viên thực-tập cùng một số chiến ham VN tham-dự. Sinh-Viên được chia ra thành từng nhóm mỗi nhóm 20 người lên tầu ngầm một ngày. Tầu ngầm và các chiến-hạm thực-tập săn-đuổi ngoài khơi Nha-Trang. Cũng năm 1962 có Tuần-Dương-Hạm Pháp mang tên JEANNE D'ARC trong chuyến viễn-du để thực-tập cho Sinh-Viên, ghé vào vịnh Nha-trang. Một số Sinh-Viên VN được đại-diện lên tầu dùng cơm tối với Sinh-Viên Hải-Quân Pháp. Ngoài ra chiến-hạm Pháp c̣n mang theo một số kiếm truyền-thống của trường Hải-Quân. Các Sinh-Viên Sĩ-Quan Việt-Nam được mua mỗi người một cây “ kiếm “ làm kỷ-niệm và xử-dụng vào các cuộc lễ lớn.
Năm 1965 trong chương-tŕnh viện-trợ và hiện-đại hóa Lực-Lượng Hải-Quân Việt-Nam. Hoa-Kỳ đă cho tu-bổ, nới rộng cơ-sở huấn-luyện nhằm đáp ứng và thích-nghi cho nhu-cầu. Hăng thầu xây-cất Hoa-Kỳ RMK đă trúng thầu thực-thi công-tác tại TTHL/HQ/NT và TTHL/CR. Quân-trường Nha-Trang được nới rộng ra cả hai phía.Từ Q1 nới rộng qua phía trái được xây cất thêm 4 dăy nhà song song có khả-năng làm chỗ ở cho trên 300 HSQ khoá-Sinh, Đoàn-Viên chuyên-nghiệp. Từ Q13 nới rộng qua phía phải được xây cất thêm 4 dăy nhà mới và một phạn-xá có khả năng làm nơi ăn ở cho trên 400 SVSQ. Ngoài ra các dăy nhà cũ đều được tân-trang, giảng-đường, lớp học được thiết-trí rộng răi và tiện-nghi hơn. Đường xá trong Trung-Tâm và Thao-Diễn-Trường được tráng nhựa mới. Toàn thể Trung-Tâm có 4 câu-lạc-bộ dành cho : SQ, SVSQ, HSQ và Đoàn-Viên Khoá-Sinh Chuyên-Nghiệp. Một thư-viện lớn tại dăy G ( Phụ-Bản A Phóng-Đồ Trung-Tâm ).
Các vị Chỉ-Huy-Trưởng từ ngày được chuyển-giao cho HQVN/CH như sau :
HQ Th/Tá Chung-Tấn-Cang Từ ngày 07-10-55 đến 29-03-58.
HQ Th/Tá Đặng-Cao-Thăng Từ ngày 29-03-58 đến 10-02-60.
HQ Th/Tá Vương-Hữu-Thiều Từ ngày 10-02-60 đến 19-01-63.
HQ Đ/U Dư-Trí-Hùng Từ ngày 19-01-63 đến 23-12-63.
HQ Tr/Tá Nguyễn-Đức-Vân Từ ngày 23-12-63 đến 26-02-66.
HQ Th/Tá Bùi-Hữu-Thư Từ ngày 26-02-66 đến 13-07-66.
HQ Đ/Tá Đinh-Mạnh-Hùng Từ ngày 13-07-66 đến 01-03-69.
HQ Đ/Tá Khương-Hữu-Bá Từ ngày 01-03-69 đến 06-08-71.
HQ Tr/Tá Nguyễn-Trọng-Hiệp Từ ngày 06-08-71 đến 16-01-73.
HQ Đ/Tá Nguyễn-Thanh-Châu Từ ngày 16-01-73 đến tháng 4-1975.
Vào tháng 08 năm 1965, lần đầu tiên Trung-Tâm bị Việt-Cộng pháo-kích từ mật-khu Đồng-Ḅ, một quả Rocket trúng ngay khu Sinh-Viên lúc bấy giờ là khóa 14, đây là dăy nhà vừa mới xây sau. Kết-quả có 3 SVSQ bị tử-thương ( các anh : Nguyễn-Hữu-Trang, Nguyễn-Đăng-Đóm và Đinh-Ngọc-Tri ) và một số đông bị thương nặng.
Tư-dinh của vị Chỉ-Huy-Trưởng TTHL toạ-lạc tại số 52 đường Duy-Tân.
Thời-gian huấn-luyện cho các khóa Sĩ-Quan theo chương-tŕnh b́nh thường là 2 năm. Tốt nghiệp với cấp-bậc Thiếu-Úy trừ-bị. Cuối năm 1962 v́ nhu-cầu khẩn-thiết để tiếp-nhận các chiến-hạm. Chương tŕnh được rút ngắn 6 tháng, do đó từ khóa 11 cho đến khoá 18 là áp-dụng chương-tŕnh huấn-luyện 18 tháng. Số lượng Sinh-Viên Sĩ-Quan được thu-nhận cũng thay đổi. Từ năm 1957 đến 1960 mỗi khóa không quá 60 Sinh-Viên. Năm 1961 thu-nhận 82 Sinh-Viên.Từ khóa 12 đến khoá 18 là trên 100. Đặc biệt tháng 5 năm 1963 khi khóa 13 nhập trường th́ có 15 Th/Úy Hiện-Dịch tốt nghiệp khóa 16 trường Vơ-Bị Quốc-Gia Đà-Lạt nhập học để chuyển ngành qua Hải-Quân hiện-dịch. Tuy nhiên khi khai-giảng th́ chỉ c̣n 7 Sĩ-Quan tham-dự khóa học. Đầu năm 1969 do nhu-cầu chuẩn-bị chuyển-giao trách-nhiệm chiến-trường Sông-Biển cho Hải-Quân Việt-Nam đảm-trách, số lượng Sinh-Viên mỗi khoá bây giờ là trên 200. Hoa-Kỳ cũng nới rộng việc huấn-luyện các Sinh-Viên Sĩ-Quan tại quân-trường Mỹ NewPort Tiểu-Bang Rhode Island gọi là OCS ( Officer Candidate School ). Các Sinh-Viên Sĩ-Quan được BTL/HQ chấp-thuận theo học các khóa OCS phải qua các giai-đoạn như sau :
- Phải có văn-bằng Tú-Tài 2.
- Phải hoàn tất 12 tuần huấn-luyện Căn-Bản Quân-Sự tại TTHL/Quang-Trung hoặc tốt nghiệp trường Bộ-Binh Thủ-Đức.
- Thi trắc-nghiệm anh ngữ phải đạt từ 70% trở lên.
Trường OCS nằm trên một ḥn đảo lớn của Tiểu-Bang Rhode Island, gần trường Naval War College và Căn-Cứ Hải-Quân Đệ-Lục Hoa-Kỳ. Trường có diện-tích rộng lớn hơn TTHL/HQ/NT, có khả-năng cung-cấp nơi ăn chỗ ở cho trên 1300 khóa-sinh. Chương-tŕnh huấn-luyện các Sĩ-Quan OCS là 6 tháng, gồm các môn học chú-trọng nhiều về thực-hành như sau :Vận-Chuyển,Vận-Chuyển Chiến-Thuật, Hàng-Hải, Pḥng-Tai, Cứu Tàu Lâm-Nạn, Hải-Pháo, Lư-Thuyết Thuyền-Bè, Căn-Bản Quân-Sự, Lănh-Đạo Chỉ-Huy và Hành-Quân tập-trận đổ-bộ.
Sau 26 tuần lễ thi tốt nghiệp, rồi tiếp-tục học về Chiến-Tranh Sông-Ng̣i ( Brown Water Navy Operation ) tại Treasure Island, San Francisco California. Khoảng 2 tuần lễ thực-tập trên các Giang-Đĩnh các loại như : Command,Monitor, ASPB, Tango, LCVP, LCM, PBR, kể cả các Duyên-Tốc-Đĩnh ngoài biển như PCF. Trong thời gian này có 3 ngày đêm tập-trận hành-quân Thủy-Bộ tại Mare Island Calfornia, địa-h́nh và dàn-cảnh giống chiến-trường VN, bị phục-kích và Chiến-Đĩnh đánh trả bằng vũ-khí đủ loại như thật, người Mỹ đóng vai Việt-Cộng.
Sau khi hồi-hương lễ gắn cấp-bậc C/Uư được tổ-chức trọng thể tại BTL/Hạm-Đội. Một năm sau th́ có Quyết-Định thăng-cấp Th/Uư trừ-bị. Sĩ-Quan OCS được huấn-luyện mỗi khóa số lượng Sinh-Viên là khoảng 60. Khóa cuối cùng là OCS 12 gồm có cả các Sĩ-Quan Bộ-Binh từ Th/Uư đến Tr/Uư cũng được tham-dự, sau khi măn khóa th́ về phục-vụ tại các đơn-vị Hải-Quân.
Khóa OCS đầu tiên vào tháng 02 năm 1970, khóa 2 vào giữa tháng 03, cứ thế mỗi khóa cách nhau 6 tuần. Khóa OCS 12 hoàn tất vào tháng 09 năm 1971. Sau chương-tŕnh OCS th́ Hoa-Kỳ chuyển qua huấn-luyện IOCS ( International Officer Candidate School ), khóa đầu tiên gồm 197 Sinh-Viên trong số đó có : 22 SVHQVN, 1 Sĩ-Quan Ba-Tư, 7 Sĩ-Quan Thổ-Nhỉ-Kỳ, 8 Sĩ-Quan Á-Căn-Đ́nh, 2 Sĩ-Quan Campuchia, số c̣n lại là Sinh-Viên và Sĩ-Quan Hoa-Kỳ. Tổng cộng khoảng trên 750 Sinh-Viên Việt-Nam đă thụ-huấn các khóa Trần-Hưng-Đạo tại Hoa-Kỳ.
Ngoài ra tại Úc cũng có phụ-giúp huấn-luyện 2 khóa OCS với số lượng tổng-cộng khoảng trên 10 SVHQ/VN.
Tại quân-trường Nha-Trang kể từ khoá 19 đến khóa 23 thời-gian huấn luyện là 1 năm. Về văn-hoá vẫn dạy theo chương-tŕnh đại-học như các khóa đàn anh. Về quân-sự được tổ-chức và điều-hành theo hệ-thống tự-chỉ-huy. Sau khi thụ-huấn một năm, các Sinh-Viên tốt-nghiệp với cấp-bậc Chuẩn-Uư. Được đi thực-tập thời-gian một năm theo chương-tŕnh OJT ( On Job Training ). Khi hoàn tất mang cấp-bậc Thiếu-Úy trừ-bị.
Từ khóa 24 về sau việc huấn-luyện trở lại áp-dụng chương-tŕnh 2 năm và tốt nghiệp với cấp-bậc Thiếu-Uư trừ-bị.
Năm 1956 để huấn-luyện Hải-Nghiệp cho Sinh-Viên khóa 7 và các khóa kế tiếp,tại vịnh Cầu-Đá thường xuyên có 3 chiếc Trục-Lôi-Hạm đó là HQ 111 ( Hàm- Tử ), HQ 112 ( Chương-Dương ) và HQ 113 ( Bạch-Đằng ). T́nh-trạng các chiến-hạm này quá cũ nên không c̣n khử-từ để xử-dụng cho việc rà ḿn. Tất cả các vị Hạm-Trưởng đều là Sĩ-Quan Hải-Quân Việt-Nam. Từ năm 1961 cho đến năm 1963 các Trục-Lôi-Hạm này đă lần lượt được phế-thải. Các Trục-Lôi-Hạm HQ 114, HQ 115, HQ 116 thay thế, ngoài việc huấn luyện c̣n tham-gia tuần-pḥng lănh-hải. Hàng năm có chương-tŕnh khử từ tại Subic-Bay Phi-Luật-Tân, mỗi chuyến khử-từ được sắp xếp cho các Sinh-Viên đi thực-tập hải-hành viễn-dương. Các tân Sĩ-Quan cũng được Hải-Quân Hoa-Kỳ phối-hợp cho thực-tập OJT trên chiến-hạm Mỹ.
Giữa năm 1962 toàn thể Sinh-Viên khóa 10 HQNT được đi thực-tập trên các chiến-hạm một tháng.Khởi đầu từ Cầu-Đá Nha-Trang nhập-hạm, hải-hành xuyên đại-dương qua Subic-Bay, Phi-Luật-Tân và trở về lại Cầu-Đá Nha-Trang.
Năm 1963 được dự-trù các tân Sĩ-Quan đến thực-tập OJT tại San Diego Hoa-Kỳ, nhưng sau đó thực-tập trên các chiến-hạm thuộc Đệ 7 Hạm-Đội đang hoạt-động tại các nước như Nhật-Bản, Phi-Luật-Tân, Đài-Loan, HongKong, Singapore v.v. Từ khi Đệ 7 Hạm-Đội tham-gia Market Time của CTF 115 tại Cam-Ranh th́ các tân Sĩ-Quan nhập-hạm ngay tại vùng biển Việt-Nam và nghỉ bến tại các bến cảng ngoại quốc. Trên mỗi chiến-hạm là 2 tân Sĩ-Quan Việt-Nam thực tập.
Cuối năm 1971, sau khi khóa 22 ra trường th́ Trung-Tâm chuẩn-bị tiếp-nhận thêm các Sĩ-Quan khóa-sinh, được gọi là khóa Sĩ-Quan Đặc-Biệt. Đó là những Sĩ- Quan có cấp-bậc từ Chuẩn-Úy đến Thiếu-Tá đă tốt nghiệp tại các quân-trường
Bộ-Binh và đang làm việc tại các đơn-vị bờ của Hải-Quân, kể cả các Sĩ-Quan ngành Cảnh-Sát thuộc các Lực-Lượng Giang-Cảnh. Thời-gian thụ-huấn là 6 tháng lư-thuyết, chương-tŕnh thuần-túy về hải-nghiệp, khi tốt nghiệp th́ vẫn mang cấp-bậc như cũ nhưng danh xưng bây giờ là HQ. Được chỉ-định phục-vụ trên các chiến-hạm. Khóa 1 Sĩ-Quan Đặc-Biệt có sự tham-dự của Tr/Uư Trần-Minh-Chánh là con của Đề-Đốc Trần-Văn-Chơn đương kim Tư-lệnh Hải-Quân lúc bấy giờ. Đồng thời Trung-Tâm c̣n huấn-luyện 3 tháng chuyên-nghiệp cho các khoá-sinh trường Vơ-Bị Quốc-Gia Đà-Lạt trong mùa văn-hóa. Đầu năm 1973 có 30 Sinh-Viên Sĩ-Quan Đà-Lạt thuộc 2 khóa 25 và 26 đến thụ-huấn 3 tháng lư-thuyết.
Tháng 09 năm 1974 khóa 25 Sinh-Viên Hải-Quân Nha-Trang măn khóa. Quân-trường Nha-Trang chỉ c̣n lại khóa 26 là khóa cuối cùng của Trung-Tâm. Cho đến cuối tháng 3 năm 1975, thành-phố Nha-Trang được lệnh di-tản. Từ ngày thành-lập cho đến 30-04-1975 Trung-Tâm đă đào-tạo được 2538 sĩ-quan chung cho ngành Chỉ-Huy và Cơ-Khí. Riêng về trường Sơ-Đẳng chuyên-nghiệp th́ đă đào-tạo được 15.050 Hạ-Sĩ-Quan và Đoàn-Viên.

II - SƠ-ĐỒ TỔ-CHỨC TTHL/HQ/NT ( Phụ-Bản B )

 Như trong sơ-đồ tổ-chức, khối Quân-Sự-Vụ và Văn-Hoá-Vụ liện-hệ mật-thiết đến việc huấn-luyện cho khóa-sinh.
1 ) Khối Quân-Sự-Vụ : Có 2 Liên-Đoàn :
a ) Liên-Đoàn SVSQ gồm 2 khoá, một khóa đàn anh và một khóa đàn em.
b ) Liên-Đoàn Chuyên-nghiệp gồm các khoá sinh tân-tuyển cũng như các khoá- sinh học chuyên-nghiệp, các HSQ học chuyên-nghiệp.
Trách-nhiệm về sinh-hoạt, quân-phong quân-kỷ, hệ-thống tự chỉ-huy, các cuộc thanh-tra, tổ-chức các cuộc lễ diễn-hành và lễ măn khóa.
c ) Pḥng Thể Thao đảm-trách việc huấn-luyện thể-dục, thể-thao và vỏ-thuật.

2 ) Khối Văn-Hoá-Vụ : Có 2 trường :
a ) Trường Sĩ-Quan Hải-Quân, có một hiệu-trưởng.
b ) Trường Sơ-Đẳng Chuyên-Nghiệp Hải-Quân, có một hiệu-trưởng.
Trách-nhiệm về các chương-tŕnh huấn-luyện, tổ-chức thi định-kỳ, thi trắc-nghiệm và thi măn-khóa.
c ) Quản-Lư thư-viện và pḥng Trợ-Huấn-Cụ.

Truyền-Thống Trường Sĩ-Quan Hải-Quân tức là Liên-Đoàn Sinh-Viên Sĩ-Quan Hải-Quân.
Khi nhập khóa các tân Sinh-Viên được đặt dưới sự hướng-dẫn và điều-hành của khóa đàn anh theo tập-tục Hải-Quân. Sinh-Viên mỗi khi di-chuyển từ 2 người trở lên là phải bước đều. Di-chuyển tập-thể là phải có người chỉ-huy đếm và hát theo nhịp. Khoảng từ 1 tuần đến 30 ngày sau là CHT cho phép Khối Quân-Sự-Vụ để khóa đàn anh huấn-nhục khoá đàn em. Thời-gian huấn-nhục kéo dài theo truyền-thống qui-định là một tháng. Giờ huấn-nhục nằm ngoài giờ học-tập. Chương-tŕnh huấn-nhục phải được thông-báo trước cho Sĩ-Quan-Trực quân-trường. Trọng-tâm chương-tŕnh huấn-nhục nhằm cho khóa đàn em biết tuân-thủ mệnh-lệnh của cấp trên. Một khi bước chân vào đời quân-ngũ và sẽ trở thành các cấp Chỉ-Huy trong tương-lai, thi-hành trước báo-cáo sau. Bất cứ một sự thi-hành chậm trễ hay không đúng yêu-cầu, khóa đàn anh áp-dụng kỷ-luật đối với cá-nhân hay tập-thể sai-phạm bằng các h́nh phạt như hít đất, chạy ṿng quanh sân hay ngồi xổm tay chống ngang hông đi chân vịt...
Mùa huấn-nhục là thời-gian mà khóa đàn anh tự tạo ra những tṛ chơi vừa có tính ra lệnh vừa có tính bất ngờ. Đối với khóa đàn em th́ đó là một thời kỳ căng- thẳng về kỷ-luật, hệ-thống quân-giai và quân-phong quân-kỷ nhập-môn.
Khi giai-đoạn huấn-nhục chấm dứt, toàn thể khóa đàn anh làm lễ tiếp-nhận khóa đàn em đă trải qua thời-kỳ gian-khổ và kết-t́nh Bố-Con. Khi đă nh́n nhận Bố-Con th́ khóa đàn anh giúp-đỡ và tạo điều-kiện cũng như hướng-dẫn cho đàn em khi cần đến. Trong lịch sử huấn-nhục tại trường Hải-Quân Nha-Trang từ trước đến nay theo một truyền-thống có tính cách quốc-tế rất tốt đẹp. Sau khi hết giai-đoạn khổ-nhục th́ khóa đàn anh và đàn em sống với nhau rất hài-ḥa, chấp-hành tốt các kỷ-luật và hệ-thống quân-giai trong hệ-thống tự chỉ-huy. Ít có trường hợp gây hận-thù. Tuy nhiên chúng tôi rất bàng-hoàng khi nghe tin có khóa một số Sinh-Viên bị chết v́ tṛ chơi huấn-nhục. Trong số đó có một Sinh-Viên khóa 17, rồi th́ một Sinh-Viên khóa 18 v́ quá hoảng sợ mà phải đào ngũ. Tại sao vậy? Việc đó làm nhà trường mang tai tiếng không ít.
Khi tôi đảm-nhận công việc Khối QSV thay thế cho HQ Th/Tá Cấn-Văn-Tâm th́ lúc đó thời-kỳ huấn-nhục cho khóa 23 đă kết-thúc được một tuần. Tuy nhiên dư-âm vẫn c̣n v́ có một số trường-hợp chết người vừa mới xảy ra. Thân-nhân từ Saig̣n ra nhận xác và than khóc trách móc quân trường. Sau khi sự việc được điều-tra y-chứng của bệnh-viện th́ xác nhận các trường-hợp đó bị chết v́ kiệt sức sau thời-gian thực-tập trên biển, không phải do vụ huấn-nhục.
Tôi đă nghe kể rằng : Có khóa đàn anh đặt ra những h́nh phạt rất độc-đáo và siêu-đẳng hơn các bậc “ Sư-Tổ “ đàn anh ngày trước. Như một đàn anh bắt phạt một đàn em sau buổi ăn trưa xong, chui vào thùng phi cho lăn tṛn trên sân trường giữa trưa nắng. Sau đó th́ đàn em này bị đau bệnh một thời gian. Cũng có vài đàn anh áp-dụng huấn-nhục trong bữa ăn, chế nước mắm nước muối vào chung một chén bắt buộc đàn em phải uống hết. Hậu quả gây cho một số đàn em bị đau thận phải đi khai bệnh. Lại cũng có đàn anh bắt phạt một đàn em bằng cách treo 2 chân ngược đầu trên quạt trần, xong mở công-tắc điện cho quạt quay tṛn. Nghe thật khủng-khiếp, dĩ nhiên các h́nh phạt đó chỉ lén lút xảy ra trong thời-gian huấn-nhục và Cán-Bộ trách-nhiệm không có mặt tại chỗ.

III - Chương-Tŕnh Huấn-Luyện
a - Ngành Chỉ-Huy : Mặc dù thời gian học tại quân-trường là 2 năm, 18 tháng hay một năm th́ các môn học chính vẫn như nhau, chỉ có rút ngắn cho thích-hợp với thời-gian.
- Giai-Đoạn 1 : Sinh-Viên Sĩ-Quan từ cầu vai đen đến Chuẩn-Uư, phải hoàn tất các môn học như : toán học đại-cương, lượng-giác h́nh học phẳng và lượng- giác không gian ( lượng giác cầu ). Vận-Chuyển thực-tập và lư-thuyết nhập-môn. Điện-Từ-Trường, Điện-Kỹ-Nghệ cấp 1, Anh-Văn và các môn phụ. Căn-bản quân-sự, tháo ráp vũ-khí nhẹ và thực-hành tác-xạ.
- Giai-Đoạn 2 : Sinh-Viên chuẩn-bị tốt nghiệp Thiếu-Uư gồm có các môn chính trong Hải-Nghiệp như Vận-Chuyển lư-thuyết, Hàng-Hải Thiên-Văn, Sức-bền Vật-Liệu, lư-thuyết Thuyền-Bè tầu nổi và tầu ngầm. Cơ-Khí Động-Cơ Nổ 2 th́ và 4 th́. Điện-Kỹ-Nghệ cấp 2, Vận-Chuyển Chiến-Thuật, Anh-Văn và các môn phụ.
b - Ngành Cơ-Khí : Có các môn chính như sau : Động-Cơ-Nổ 2 th́ và 4 th́. Động-Cơ Diesel, Điện-Kỹ-Nghệ, Pḥng-Tai, Sức-Bền Vật-Liệu, Lư-Thuyết Thuyền-Bè áp-dụng cho tầu nổi và tầu ngầm. Chú-trọng nhiều về nguyên-tắc và thực-hành các loại động-cơ. Các môn phụ như ngành Chỉ-Huy, kể cả căn-bản quân-sự, tháo ráp vũ-khí nhẹ và thực-hành tác-xạ.
c - Khóa Ngắn Hạn 6 Tháng và 3 Tháng :
Các khóa Sĩ-Quan Đặc-Biệt th́ thời-gian học 6 tháng nên chỉ học các môn chính của giai-đoạn 2 trong Hải-Nghiệp như Hàng-Hải lư-thuyết, Vận-Chuyển lư-thuyết, Khí-Tượng, Vận-Chuyển Chiến-Thuật, một số môn phụ do Khối Văn-Hóa-Vụ chọn lựa và soạn thảo cho thích hợp với yêu-cầu.
Các khóa 3 tháng của Sinh-Viên trường Vơ-Bị Đà-Lạt th́ chú trọng các môn Hải-Nghiệp như Vận-Chuyển, Hành-Hải lư-thuyết và thực-hành.

IV - Chương-Tŕnh Thực-Tập :
Tùy theo thời-gian học tại quân-trường mà việc thực-tập áp-dụng có khác nhau. Những khóa từ 18 tháng đến 2 năm th́ thực-tập hải-hành trên chiến-hạm nằm trong chương-tŕnh huấn-luyện tại quân-trường. Các khóa 1 năm th́ sau khi măn khóa được đi thực-tập OJT trên chiến-hạm một năm.
Học trong quân-trường th́ không thấy ǵ, v́ ai cũng như ai. Nhưng khi bước chân xuống chiến-hạm th́ nhiều chuyện lạ đời và bất ngờ xảy ra. Nhất là những chuyến đầu tiên, có anh vừa mới xuống xe GMC c̣n đang đứng trên cầu. Nh́n thấy những chiến-hạm HQ 114, HQ 115, HQ 116 đang cập cầu lắc-lư tại chỗ là tự nhiên bắt đầu buồn nôn ngay tại cầu. Có anh nói chuyện cười đùa vui vẽ hồn nhiên, bước chân xuống tầu, chạy được một khoảng ra khỏi vịnh Cầu-Đá là mặt mày xanh lơ bèn t́m nơi an nghỉ. Anh nào c̣n tỉnh-táo tới giờ lấy thức ăn ra, có anh vừa ăn trái cà chua th́ sau đó ói ra màu đỏ cà chua. Có anh ăn quả chuối th́ lại cho ra chè chuối. Trong khi có anh không ăn được ǵ cả nên cho mật vàng, mật xanh, rồi không c̣n chút mật nào để cho cá nữa...th́ c̣n nhiều anh đầy thiện-chí sẳn sàng t́nh-nguyện xơi thế! Lại có anh, tầu càng lắc, sóng càng to th́ càng tỉnh-bơ, thản-nhiên ph́-phà điếu “ BASTOS “ như đang dệt mộng!
Thật “ bái-phục “.
Thời-gian học trong quân-trường càng lâu, càng lắm gian-nan, càng thêm gian-khổ. Cũng chừng đó môn học nhưng sao lắm cuộc thi, lắm bài, lắm vở, lắm các môn phụ, nhớ lại mà phát sợ! Khi đă ra rồi có người không dám nh́n lại ngôi trường cũ yêu quí của ḿnh!!! V - Thi Măn Khóa Và Chọn Thủ-Khoa :

a - Hội-Đồng Chấm Thi : Trước khi một khóa SVSQ sắp đến giai-đoạn măn khóa. Chỉ-Huy-Trưởng Trung-Tâm thông-báo cho BTL/HQ/Khối Quân-Huấn tối thiểu trước 1 tháng để chỉ-định hội-đồng Giám-Khảo. Hội-Đồng thi ngoài thành-phần cơ-hữu của Trung-Tâm như CHT, các Trưởng-Khối VHV, QSV và Giáo-Sư các môn chính. Thành phần chủ-động cuộc thi do Tư-Lệnh Hải-Quân chỉ-định gồm một vị Chánh-Chủ-Khảo và các vị Giám-Khảo từ Saig̣n ra để chấm thi các môn chính Vận-Chuyển, Hàng-Hải, Cơ-Khí, Điện-Khí, Truyền-Tin, Khí-Tượng. Bài thi do các Giáo-Sư đương-nhiệm của trường đề-nghị mỗi môn 3 đề tài. Tất cả các đề thi giao nạp cho Khối Văn-Hoá-Vụ.Khối Văn-Hoá-Vụ có nhiệm-vụ đánh máy và bỏ vào b́ niêm phong. Trước giờ thi môn nào, vị Chánh-Chủ-Khảo chọn một trong 3 phong b́ đó và trao cho các vị Giám-Khảo khui phát cho Sinh-Viên. Cuộc thi gồm cả lư-thuyết tại pḥng, vấn-đáp và thực-hành.
b - Tính Điểm Và Chọn Thủ-Khoa : Điểm thi măn khóa được tính chung là 100 hệ-số.
- Ngành Chỉ-Huy :
Vận-Chuyển lư-thuyết hệ-số 25, Hàng-Hải lư-thuyết hệ-số 25.
- Ngành Cơ-Khí : Có phương-thức tính riêng cho ngành Kỹ-thuật cũng có 100 hệ-số.
- Các môn phụ và các điểm thi trong giai-đoạn cũng như thực-tập tính trung- b́nh có 30 hệ-số.
- Điểm CHT sẽ cho sau cùng có 20 hệ-số.
- Chọn Thủ-khoa : Theo truyền thống thủ-khoa là một Sinh-Viên cao điểm nhất của ngành Chỉ-Huy. Sau khi có kết-quả điểm thi măn khóa các môn xong, ban Giám-Khảo trao cho khối Văn-Hóa-Vụ để đúc-kết và tŕnh lên Hội-Đồng tuyển- chọn các Sinh-Viên cao điểm nhất. Hội-Đồng gồm có CHT, vị Chánh-Chủ-Khảo, Trưởng Khối Quân-Sự-Vụ và Trưởng-Khối Văn-Hóa-Vụ. Chỉ-Huy-Trưởng dựa vào hồ-sơ quân-kỷ, chấp-hành nội-qui, vóc dáng, tác-phong, quân-phục cũng như cách xưng hô khi tŕnh-diện. Sau đó theo nghi-thức Liên-Đoàn Sinh-Viên cho những người cao điểm nhất tŕnh-diện CHT bằng quân-phục đại-lễ. Điểm của CHT sẽ quyết-định là người Sinh-Viên nào Thủ-Khoa.

VI - Vài Nét Về Các Khóa Sĩ-Quan HQ :
Trước 20 tháng 07 năm 1954 Hải-Quân Việt-Nam được h́nh thành xuất-phát từ Hải-Quân Pháp. Ngày 20 tháng 07 năm 1954 Chính-Phủ Pháp kư Hiệp-Định Genève chia đôi đất nước Việt-Nam từ vĩ-tuyến 17 trở ra Bắc theo chế-độ Cộng-Sản, từ vĩ-tuyến 17 trở vào Nam theo chế-độ Tự-Do thuộc về VNCH. Khi đó Hải-Quân Việt-Nam Cộng-Ḥa được Hoa-Kỳ tham-gia trợ-giúp huấn-luyện và trang-bị cũng như hiện-đại-hóa để bảo-vệ miền Nam.
- Các khóa do Hải-Quân Pháp trực-tiếp Chỉ-Huy và huấn-luyện tại Việt-Nam gồm từ khóa 1 đến khóa 6 SQHQ/VN :
- Khóa 1 :
Tổng số có 9 Sinh-Viên gồm 6 người thuộc ngành Chỉ-Huy như sau : Chung Tấn-Cang, Trần-Văn-Chơn, Lê-Quang-Mỹ, Trần-Văn-Phấn, Hồ-Tấn-Quyền, Lâm-Ngươn-Tánh và 3 Sinh-Viên ngành Cơ-Khí như sau : Đoàn-Ngọc-Bích, Nguyễn-Văn-Lịch, Lương-Thanh-Tùng. Tất cả Sinh-Viên thuộc khóa 1 được thi tuyển chọn từ Hàng-Hải Thương-Thuyền, ngoại trừ Lê-Quang-Mỹ là một Thiếu-Úy Bộ-Binh. Khóa 1 đầu năm 1952 gia-nhập vào Hải-Quân Pháp, được thực-tập Hải-Nghiệp và phục-vụ trên các chiến-hạm. Tất cả được đưa xuống Hàng-Không Mẫu-Hạm “ ARROMANCHES “ tạm-trú và huấn-luyện, rồi học chuyên nghiệp trên các chiến-hạm khác. TTHL/HQ/NT được xây cất xong vào tháng 07 năm 1952. Ngày 01 tháng 10 năm 1952 cử-hành măn khóa Sĩ-Quan Hải-Quân đầu tiên đó là khóa 1 SQ/HQVN với cấp-bậc Thiếu-Úy, riêng Sinh-Viên Lê-Quang-Mỹ được gắn cấp-bậc Tr/Úy. Sinh-Viên Thủ-Khoa là Trần-Văn-Chơn, cấp-bậc sau cùng là cựu Đề-Đốc. Ngày 30 tháng 04 năm 1975 ở lại, đi tù cải-tạo và bị chuyển ra Bắc. Sau khi măn khóa, đa-số Sĩ-Quan khóa 1 được bổ-nhiệm phục-vụ tại các DINA ( Division Navale D'Assaut ) của Pháp ở các lưu-vực sông Cửu-Long và sông Hồng-Hà cuối năm 1952. Tháng 04 năm 1953 DINA 1 tại Cần-Thơ ( tiền thân của Hải-Đoàn Xung-Phong 21 ), về sau Pháp di chuyển Hải-Đoàn Xung-Phong 21 về Mỹ-Tho. Tại Cần-Thơ th́ sau này Việt-Nam thành-lập Giang-Đoàn 25. Tháng 6 năm 1953 là DINA 3 ( tiền thân của Hải-Đoàn Xung-Phong 23, sau này đổi thành Giang-Đoàn 23 ) đồn-trú tại Vĩnh-Long. Ngoài Bắc th́ có DINA 2 ( tiền thân của Hải-Đoàn Xung-Phong 22 ) hoạt-động vùng Châu-Thổ sông Hồng-Hà. Sau Hiệp-Định Genève DINA 2 trên đường rút về th́ phụ-giúp đồng-bào di-cư vào Nam. Trong lịch-sử Hải-Quân VNCH, tất cả các vị Sĩ-Quan thuộc khóa 1 đă nắm giữ các chức-vụ Chỉ-Huy như sau :

- HQ Th/Tá Lê-Quang-Mỹ, Tư-lệnh Hải-Quân Việt-Nam đầu tiên từ ngày 20 tháng 08 năm 1955 đến năm 1957. Sau chiến-dịch Rừng-Sát dẹp tan Lực-Lượng B́nh-Xuyên được vinh-thăng Trung-Tá đầu năm 1956.
- HQ Tr/Tá Trần-Văn-Chơn, Tư-Lệnh Hải-Quân từ năm 1957 đến đầu tháng 08 năm 1959.
- HQ Đ/Tá Hồ-Tấn-Quyền, Tư-Lệnh Hải-Quân kể từ ngày 06 tháng 08 năm 1959 cho đến cuối tháng 10 năm 1963 th́ bị ám-sát trong cuộc đảo-chánh Tổng-Thống Ngô-Đ́nh-Diệm.
- HQ Đ/Tá Chung-Tấn-Cang, Tư-Lệnh Hải-Quân kể từ đầu tháng 11 năm 1963 đến gần cuối tháng 04 năm 1965.
- HQ Đ/Tá Trần-Văn-Phấn, Tư-Lệnh Hải-Quân kể từ ngày 26 tháng 04 năm 1965 đến cuối tháng 09 năm 1966.
- Trong giai-đoạn từ cuối tháng 09 đến hết tháng10 năm 1966 chức-vụ Tư-Lệnh Hải-Quân tạm-thời do Trung-Tướng Cao-Văn-Viên nắm giữ.
- HQ Đ/Tá Trần-Văn-Chơn, tái đảm-nhiệm Tư-Lệnh Hải-Quân từ ngày 01 tháng 11 năm 1966 cho đến cuối năm 1974, lúc bấy giờ đă được vinh-thăng Đề-Đốc.
- Đề-Đốc Lâm-Ngươn-Tánh, Tư-Lệnh Hải-Quân thay thế Đề-Đốc Trần-Văn-Chơn cho đến cuối tháng 03 năm 1975.
- Phó Đô-Đốc Chung-Tấn-Cang, vị Tư-Lệnh Hải-Quân sau cùng từ cuối tháng 03 năm 1975 đến 30 tháng 04 năm 1975.
Ba vị Sĩ-Quan ngành Cơ-khí có cấp-bậc và chức-vụ cuối cùng như sau :
- HQ Đ/Tá CK Đoàn-Ngọc-Bích, Tổng-Thanh-Tra BTL/HQ.
- HQ Đ/Tá CK Nguyễn-Văn-Lịch, Giám-Đốc Hải-Quân Công-Xưởng.
- HQ Đ/Tá CK Lương-Thanh-Tùng, Tham-Mưu-Phó Tiếp-Vận BTL/HQ.
- Khóa 2 :
Tổng số có 16 Sinh-Viên gồm 12 ngành Chỉ-Huy và 4 ngành Cơ-Khí, hầu hết
được thi tuyển-chọn từ Hàng-Hải Thương-Thuyền.Nhập trường vào ngày 01 tháng 11 năm 1952, thời-gian thụ-huấn 6 tháng. Chú-trọng huấn-luyện về Căn-Bản Quân-Sự, Vũ-Khí, Tác-Xạ, Hải-Pháo và ôn-tập Hải-Nghiệp. Măn khóa vào tháng 05 năm 1953 với cấp-bậc Thiếu-Uư. Sinh-Viên Thủ-Khoa là Đinh-Mạnh-Hùng, cấp-bậc sau cùng là Phó Đề-Đốc. Khóa 2 có hai vị được vinh-thăng Phó Đề-Đốc đó là : Phó Đề-Đốc Đinh-Mạnh-Hùng, Phụ-Tá Tư-Lệnh Hải-Quân Hành-Quân Lưu-Động Sông tại BTL/HQ. Phó Đề-Đốc Nghiêm-Văn-Phú là vị Tư-Lệnh cuối cùng của Lực-Lượng Đặc-Nhiệm Tuần-Thám 212 tại Mỹ-Tho.
- Khóa 3 :
Tổng số có 9 Sinh-Viên gồm 6 ngành Chỉ-Huy và 3 ngành Cơ-Khí, hầu hết
được thi tuyển-chọn từ Hàng-Hải Thương-Thuyền. Nhập trường tháng 07 năm 1953, thời-gian thụ-huấn 6 tháng. Chú trọng huấn-luyện về Căn-Bản Quân-Sự, Vũ-Khí, Tác-Xạ, Hải-Pháo và ôn-tập Hải-Nghiệp. Măn khóa vào tháng 01 năm 1954 với cấp-bậc Thiếu-Uư. Sinh-Viên Thủ-Khoa là Nguyễn-Văn-Thông, cấp-bậc Đ/Tá, vị Tư-Lệnh cuối cùng của Lực-Lượng Đặc-Nhiệm Trung-Ương 214 tại Đồng-Tâm. Thủ-Khoa ngành Cơ-Khí là Trần-Phước-Dũ,cấp-bậc sau cùng là Đ/Tá. Khóa 3 có bốn vị được vinh-thăng Phó Đề-Đốc đó là : Phó Đề-Đốc Diệp-Quang-Thủy, Tham-Mưu-Trưởng BTL/HQ. Phó Đề-Đốc Nguyễn-Hữu-Chí là vị Tư-Lệnh đầu tiên và cuối cùng của Lực-Lượng Đặc-Nhiệm Duyên-Pḥng 213 tại Cam-Ranh. Đầu năm 1975 đảm nhiệm Phụ-Tá Tư-Lệnh Hải-Quân Hành-Quân Lưu-Động Biển tại BTL/HQ. Phó Đề-Đốc Vũ-Đ́nh-Đào là vị Tư-Lệnh cuối cùng của Vùng 3 Duyên-Hải kiêm Liên-Đoàn Đặc-Nhiệm 213.3 tại Vũng-Tầu. Phó Đề-Đốc Nguyễn-Thanh-Châu là vị Chỉ-Huy-Trưởng cuối cùng của TTHL/HQ Nha-Trang.
- Khóa 4 :
Tổng số có 15 Sinh-Viên gồm 12 ngành Chỉ-Huy được tuyển-chọn trực tiếp và  3 SV ngành Cơ-Khí được thi tuyển-chọn từ Hàng-Hải Thương-Thuyền. Nhập trường tháng 02 năm 1954, thời-gian thụ-huấn 10 tháng. Chú trọng huấn-luyện về Căn-Bản Quân-Sự, Vũ-Khí, Tác-Xạ, Hải-Pháo và ôn-tập Hải-Nghiệp. Măn khóa vào tháng 12 năm 1954 với cấp-bậc Thiếu-Uư. Sinh-Viên Thủ-Khoa là Nguyễn-Văn-Ánh, ông đă từng đảm nhiệm chức-vụ Tham-Mưu-Trưởng BTL/HQ từ năm 1965 - 1968. Cấp-bậc và chức-vụ sau cùng là HQ Đ/Tá biệt-phái Phủ Thủ-Tướng. HQ Đ/Tá Nguyễn Bá-Trang là vị Tư-Lệnh cuối cùng của Lực-Lượng Đặc-Nhiệm Thủy-Bộ 211 tại B́nh Thủy. Sau 30 tháng 04 năm 1975 ông ở lại và bị tù cải-tạo, tháng 05 năm 1976 được chuyển trại từ K 2 Suối-Máu Biên-Hoà ra Yên-Bái bằng phi-cơ C 130. Khóa 4 có một vị được vinh thăng Phó Đề-Đốc đó là : Phó Đề-Đốc Hồ-Văn-Kỳ-Thoại, vị Tư-Lệnh cuối cùng của Vùng 1 Duyên-Hải kiêm Liên-Đoàn Đặc-Nhiệm 213.1 tại Đà-Nẳng.

- Khóa 5 :
Tổng số có 21 Sinh-Viên ngành Chỉ-Huy, gồm đa-số là xuất-thân từ Hàng-Hải
Thương-Thuyền và một số được chọn qua cuộc thi-tuyển ngoài dân-sự. Nhập trường ngày 27 tháng 07 năm 1954, thời-gian thụ-huấn 10 tháng. Chú-trọng huấn-luyện về Căn-Bản Quân-Sự, Vũ-Khí, Tác-Xạ, Hải-Pháo thực-hành, Hàng-Hải Cận-Duyên, Viễn-Duyên, Vận-Chuyển và ôn-tập Hải-Nghiệp. Măn khóa tháng 05 năm 1955 với cấp-bậc Thiếu-Uư. Sinh-Viên Thủ-Khoa là Nguyễn-Viết-Tân, cấp-bậc và chức-vụ cuối cùng là HQ Đ/Tá, Chỉ-Huy-Trưởng Sở Pḥng-Vệ Duyên-Hải. Sau 30 tháng 04 năm 1975 ở lại tŕnh-diện đi tù cải-tạo. Tháng 05 năm 1976 được chuyển trại từ Suối-Máu Biên-Ḥa ra Yên-Bái Bắc-Việt bằng phi-cơ C130. Nhập trại tù Liên-Trại 2 Hoàng-Liên-Sơn. Cuối năm 1978 được chuyển về trại tù Hà-Sơn-B́nh ( Hà-Tây ), năm 1983 chuyển trại một lần nữa về Hà-Nam-Ninh. Tại đây một thời-gian sau ông bị bệnh nặng, năm 1988 ông được ra tù về Saig̣n, tuy nhiên căn bệnh phù-thủng, kiệt-sức tiếp-tục tàn-phá hành-hạ, cuối cùng ông đă vĩnh-viễn ra đi năm 1989. HQ Đ/Tá Hà-Văn-Ngạc trực-tiếp chỉ-huy trận Hải-Chiến Hoàng-Sa đầu năm 1974, dưới quyền có các chiến-hạm HQ 10, HQ 4, HQ 5 và HQ 16. HQ Đ/Tá Nguyễn-Văn-May là vị Tư-Lệnh cuối cùng của Vùng 5 Duyên-Hải kiêm Liên-Đoàn Đặc-Nhiệm 213.5 tại Năm-Căn, sau 30 tháng 04 năm 1975 ông ở lại và bị tù cải-tạo. Tháng 05 năm 1976 được chuyển trại từ K 2 Suối-Máu Biên-Hoà ra Yên-Bái bằng phi-cơ C 130. Khóa 5 có một vị được vinh-thăng Phó Đề-Đốc đó là :Phó Đề-Đốc Hoàng-Cơ-Minh, vị Tư-Lệnh cuối cùng của Vùng 2 Duyên Hải kiêm Liên-Đoàn Đặc-Nhiệm 213.2 tại Cam-Ranh.

- Khóa 6 :
Tổng số có 21 Sinh-Viên gồm 16 ngành Chỉ-Huy và 5 ngành Cơ-Khí, đa-số là
xuất-thân từ Hàng-Hải Thương-Thuyền và một số được chọn qua cuộc thi-tuyển ngoài dân-sự. Nhập trường ngày 21 tháng 04 năm 1955, thời-gian thụ-huấn 11 tháng. Chú-trọng huấn-luyện về Căn-Bản Quân-Sự, Vũ-Khí, Tác-Xạ, Hải-Pháo thực-hành, Hàng-Hải Cận-Duyên, Viễn-Duyên, Vận-Chuyển và ôn-tập Hải-Nghiệp. Măn khóa ngày 08 tháng 03 năm 1956 với cấp bậc Thiếu-Uư. Sinh-Viên Thủ-Khoa là Bùi-Huy-Phong, cấp-bậc và chức-vụ sau cùng là HQ Tr/Tá phục-vụ tại TTHL/HQ Saig̣n. Sau ngày 30 tháng 04 năm1975 tŕnh diện đi tù Cải-Tạo và bị bệnh chết tại trại K2 Suối-Máu Biên-Hoà đầu năm 1976. Sinh-Viên Thủ-Khoa ngành Cơ-Khí là Nguyễn-Văn-Tần, bị đau bệnh chết lúc c̣n mang cấp-bậc Đ/Uư.

- Các khóa do Hải-Quân Pháp trực-tiếp huấn-luyện tại BREST:

Trường Hải-Quân Pháp nằm trên một ngọn đồi thuộc thành phố Brest. Mặt tiền nh́n ra biển Đại-Tây-Dương. Trường luôn luôn có 2 khóa, một khóa đàn anh và một khóa đàn em. Mỗi khóa có chừng 100 Sinh-Viên thụ-huấn, trong số đó hầu hết là người Pháp. Thời-gian thụ-huấn từ 20 tháng đến 2 năm. Các môn học chính trong chương-tŕnh gồm có : Toán học Đại-Cương, Lượng-Giác Không-Gian, Vận-Chuyển thực-hành và lư-thuyết, Thiên-Văn, Khí-Tượng, Hàng-Hải Cận-Duyện Viễn-Duyên, Kiến-Trúc Chiến Hạm, Tầu Ngầm, Hải-Pháo, Điện Lư-Thuyết và Kỷ-Nghệ, các loại Động-Cơ nỗ và Diesel, các loại máy điện-tử dùng để quan-sát không-gian, máy Sonar, Sondeur ( Fathometer ), Radar, máy bay, thực-tập phi-hành, Căn-Bản Quân-Sự và Vũ-Khí. Hàng tháng đều có chuyến đi thực-tập ngắn hạn trên biển. Giai-đoạn 1 của khóa học là một năm, trước khi qua giai-đoạn 2 là thời-gian đi nghỉ hè. Trước khi được nghỉ hè là phải một chuyến viễn-du qua các quốc-gia lân cận rồi trở về Brest. Dịp nghĩ hè cũng là lúc khóa đàn anh măn khóa, nhà trường lại tiếp nhận thêm khóa mới. Sau kỳ nghĩ hè vào học giai-đoạn 2 là trở thành Sinh-Viên đàn anh, cũng có những tṛ chơi huấn-nhục cho đàn em theo truyền thống của trường Sĩ-Quan Hải Quân. Măn khóa các tân Sĩ-Quan với cấp-bậc Thiếu-Uư trên vai, phải một chuyến hải-hành viễn-du kéo dài nhiều tháng, sau chuyến đi cuối cùng này là hồi-hương.

- Khóa 1 Brest :
Được chọn qua một cuộc thi, các ứng-viên trúng tuyển khóa 1 :
- Ngành Chỉ-Huy : Nguyễn-Văn-Duyên, Nguyễn-Tân, Đặng-Cao-Thăng, Vương-Hữu-Thiều, Nguyễn-Vân, Nguyễn-Đức-Vân.
- Ngành Cơ-Khí : Nguyễn-Gia-Định.
- Ngành Bác-Sĩ : Nguyễn-Văn-Đăng, Đặng-Tất-Khiêm, Dương-Hồng-Mô, Phạm Minh-Nghĩa, Trần-Ngươn-Phiêu, Phạm-Vận.
- Ngành Hành-Chánh Tài-Chánh : Đổ-Đăng-Công, Phạm-Trung-Giám, Đặng-Văn-Tất. Ngành Chỉ-Huy và Cơ-Khí khai-giảng vào tháng 10 năm 1952 tại Brest, tất cả rời khỏi VN bằng phi-cơ đến phi-trường Orly vào tháng 09 năm 1952. Măn khóa vào tháng 06 năm 1954. Trở về nước vào tháng 04 năm 1955, tính ra phải mất 2 năm 6 tháng mới trở lại quê-hương. Sau khi măn khóa các tân Sĩ-Quan c̣n đi hải-hành một chuyến dài ṿng quanh thế-giới mất 8 tháng trên Tuần-Dương-Hạm JEANNE D'ARC. Khóa 1 Brest có một vị được vinh-thăng Phó Đề-Đốc đó là : Phó Đề-Đốc Đặng-Cao-Thăng, vị Tư-Lệnh cuối cùng của Hải-Quân Vùng 4 Sông-Ng̣i tại Cần-Thơ.

- Khóa 2 Brest :
Được chọn qua một cuộc thi, các ứng-viên trúng-tuyển khóa 2 :
- Ngành Chỉ-Huy : Vũ-Xuân-An, Dư-Trí-Hùng, Nguyễn-Kim-Lượng, Hồ-Ngọc-Ngà, Phương-Xuân-Nhàn, Trịnh-Xuân-Phong, Nguyễn-Ngọc-Quỳnh, Nguyễn-Tân ( từ K1 học lại, khi ra trường xin ở lại Pháp ), Đinh-Gia-Tường.
- Ngành Cơ-Khí : Ủ-Văn-Đức, Bùi-Văn-Lễ, Bùi-Tiến-Rũng. Khóa 2 Brest nhập-trường cuối tháng 09 năm 1953. Trong thời-gian đi thực tập th́ Sinh-Viên Dư-Trí-Hùng và Đinh-Gia-Tường đi trên Tuần-Dương-Hạm JEANNE D'ARC, các Sinh-Viên khác thực-tập trên Hạm-Đội Địa-Trung-Hải. Khóa 2 Brest về nước đầu năm 1956, hai Sĩ-Quan Phương-Xuân-Nhàn và Đinh-Gia-Tường sau khi phục-vụ được 1 năm th́ vượt-tuyến ra Bắc theo Cộng-Sản năm 1957. Cho đến ngày 30 tháng 04 năm 1975, cấp-bậc cao nhất của các vị thuộc khóa 2 Brest là Đ/Tá.

- Khóa 3 Brest :

Được chọn qua một cuộc thi, các ứng-viên trúng-tuyển khóa 3 :

- Ngành Chỉ-Huy : Phạm-Cừ, Nguyễn-Quang-Dật, Nguyễn-Văn-Khánh, Đỗ-Kiểm, Vũ-Nhân, Lê-Phụng, Phạm-Văn-Sanh, Bùi-Hữu-Thư, Vũ-Tư-trực, Trịnh-Quang-Xuân.
- Ngành Cơ-Khí : Đặng-Đ́nh-Hiệp, Nguyễn-Ngọc-Oánh.

Khóa 3 Brest nhập-trường cuối tháng 09 năm 1954, sau khi măn giai-đoạn1 th́ Sinh-Viên Phạm-Cừ và Vũ-Nhân hồi-hương, Sinh-Viên Nguyễn-Văn-Khánh bỏ dở việc thụ-huấn và hồi-hương v́ sức khỏe. Riêng Sinh-Viên Vũ-Tư-Trực cũng hồi-hương sau năm thứ 1 và chuyển ngành Bộ-Binh, bị chết v́ tại nạn tại trường Thủ-Đức. Khóa 3 Brest măn khóa hồi-hương toàn bộ cuối năm 1956. Cho đến ngày 30 tháng 04 năm 1975, cấp-bậc cao nhất của các vị thuộc khóa 3 Brest là Đ/Tá. Trong số các vị Đ/Tá đảm-nhiệm các chức-vụ cao như : HQ Đ/Tá Đỗ-Kiểm, Tham-Mưu Phó Hành-Quân BTL/HQ. HQ Đ/Tá Trịnh-Quang-Xuân là vị Tư-Lệnh cuối cùng của Hải-Quân Vùng 3 Sông-Ng̣i tại Long-B́nh.

- Khóa 4 Brest :

Được chọn qua một cuộc thi, các ứng-viên trúng-tuyển khóa 4 :
- Ngành Chỉ-huy : Lê-Triệu-Đẩu, Nguyễn-Địch-Hùng, Nguyễn-Kim-Lượng ( từ K 2 bị bệnh trở lại ), Vơ-Duy-Ninh.
- Ngành Cơ-Khí : Nguyễn-Tiến-Ích, Trần-Văn-Sơn.

Khóa 4 Brest nhập trường cuối tháng 09 năm 1955, măn khóa cuối tháng 06 năm 1957. Từ khóa 1 đến khóa 6 tại Nha-Trang cũng như 4 khóa xuất-thân từ trường SQHQ Pháp tại Brest th́ không có đặt tên riêng cho từng khóa. Tên Các Cḥm Sao :

Khi chuyển-giao cho Hải-Quân Việt-Nam, ngoài số thứ-tự ra c̣n có tên riêng của khóa. Mỗi tên tượng-trưng cho một cḥm sao.. Trong Hải-Quân, với biển cả mênh-mông, hải-hành xuyên đại-dương là nghề của chàng. Thời đại văn minh tiến-bộ như hiện nay dù có vệ-tinh theo dơi, nhưng căn-bản của việc định vị-trí trên biển bằng các tinh-tú vẫn phải học, vẫn phải biết đối với các chiến-sĩ áo trắng.Đó cũng là một niềm vui mà cũng là một nghệ-thuật vừa áp-dụng toán-học cũng như kinh-nghiệm trong ngành hàng-hải. Trong vũ-trụ, ngoài Thái-Dương-Hệ, chúng ta quan-sát thấy có những cḥm sao kết-hợp với nhau thành những h́nh dạng gần như không thay đổi, xuất-hiện trên bầu trời tùy theo ngày giờ và vị-trí của người nh́n. Đó cũng là những mục-tiêu của chúng ta dùng để xác-định vị-trí con tầu. Theo toán học không-gian, trái đất tạm xem như là trung-tâm điểm của Vũ-Trụ h́nh cầu. Mặt Trời di-chuyển giáp ṿng trên Hoàng-Đạo ( Ecliptic ) trong thời-gian là 365 ngày 1/4 ( một năm ), đi qua 12 cḥm sao nằm dọc theo ṿng cung lớn. Các cḥm sao này tạo thành 12 con giáp ( Zodiac ) của khoa chiêm-tinh-học Tây-Phương như sau :
- Bảo-B́nh ( Verseau hay Aquarius : từ 21 tháng 01 đến 19 tháng 02 )
- Song-Ngư ( Poissons hay Pisces : từ 20 tháng 02 đến 20 tháng 03 )
- Dương-Cưu ( Bélier hay Aries : từ 21 tháng 03 đến 20 tháng 04 )
- Kim-Ngưu ( Taureau hay Taurus : từ 21 tháng 04 đến 20 tháng 05 )
- Song-Nam ( Gémeaux hay Gemini : từ 21 tháng 05 đến 21 tháng 06 )
- Bắc-Giải ( Cancer: từ 22 tháng 06 đến 22 tháng 07 )
- Hải-Sư ( Lion hay Leo : từ 23 tháng 07 đến 23 tháng 08 )
- Xử-Nữ ( Vierge hay Vergo : từ 24 tháng 08 đến 22 tháng 09 )
- Thiên-Xứng ( Balance hay Libra : từ 23 tháng 09 đến 23 tháng 10 )
- Hổ-Cáp ( Scorpion hay Scorpius : từ 24 tháng 10 đến 22 tháng 11 )
- Nhân-Mă ( Sagittaire hay Sagittarius : từ 23 tháng 11 đến 21 tháng 12 )
- Nam-Dương ( Capricorne hay Capricornus:Từ 22 tháng 12 đến 20 tháng 01) Như trên các cḥm sao được xếp thứ-tự ngày tháng theo khoa Tử-Vi Tây- Phương. Đầu tiên là Bảo-B́nh và cuối cùng là Nam-Dương. Tuy nhiên trong Hàng-Hải Thiên-Văn, Hoàng-Đạo và Xích-Đạo hợp với nhau một góc nghiêng là 23 độ 27 phút. Hai ṿng tṛn đó cắt nhau tại 2 điểm “ Gamma “ và ” Gamma' “, ta gọi là Xuân-Phân và Thu-Phân. Ṿng khởi điểm được tính lúc mặt trời đi từ “ Gamma “ và trở về lại là một năm.

Ngày 21 tháng 03 Dương-Lịch hằng năm là lúc mặt trời đi qua điểm xuất-phát, cũng là vùng có cḥm sao Dương-Cưu nên được coi như số 1 và mặt trời mỗi tháng chiếm một cung, khi đi giáp ṿng th́ đến cḥm sao Song-Ngư là số 12. Căn-cứ vào số thứ-tự các cḥm sao ở trên để đặt tên cho khóa.

Khóa 7 SQHQ/NT, lúc này vị Tư-Lệnh Hải-Quân Việt-Nam đầu tiên là HQ Th/Tá Lê-Quang-Mỹ. Chỉ-Huy-Trưởng Trung-Tâm Huấn-Luyện Hải-Quân đầu tiên là HQ Đ/Uư Chung-Tấn-Cang.Giám-Đốc trường SVSQ là HQ Đ/Uư Nguyễn-Đức-Vân. Tuy nhiên dù Pháp đă chuyển-giao cho HQVN nhưng Giáo-Sư và Huấn-Luyện-Viên vẫn là người Pháp. Ngoại trừ Căn-Bản Quân-Sự và Vũ-Khí-Nhẹ là do Huấn-Luyện-Viên Việt-Nam phụ-trách. Đến tháng 5 năm 1957 tất cả Sĩ-Quan và Huấn-Luyện-Viên Pháp cuối cùng rút khỏi quân-trường. Khóa 7 được đặt tên Đệ Nhất Thiên-Xứng đó là cḥm sao số 7. Các khóa kế tiếp cứ thế mà tính theo ṿng thứ-tự 12 con giáp như trên. Khóa 8 là Đệ Nhất Hổ-Cáp, khóa 9 là Đệ Nhất Nhân-Mă và tiếp-tục cho đến Đệ Nhất Song-Ngư. Tiếp-theo là Đệ Nhị, Đệ Tam. v.v..

- Khóa 7 : Đệ Nhất Thiên-Xứng
Tổng số có 46 Sinh-Viên gồm 29 ngành Chỉ-Huy và 17 ngành Cơ-Khí. Nhập trường tháng 01 năm 1956 thời gian thụ-huấn 20 tháng. Măn khóa tháng 07 năm 1957 với cấp bậc Thiếu-Uư. Sinh-Viên Thủ-Khoa là Nguyễn-Văn-Thiện, cấp-bậc và chức-vụ cuối cùng là HQ Đ/Tá Nguyễn-Văn-Thiện, Tư-Lệnh V4DH kiêm ( LĐĐ N 213.4 ), kiêm Đặc-Khu-Trưởng Đặc-Khu Phú-Quốc. Trong những ngày của tháng 04 năm 1975 tại đảo Phú-Quốc tràn ngập gần 60 ngàn người tị-nạn được các tầu chở đến từ Miền Trung. Trước cảnh hỗn-loạn cướp-bóc hăm-hại trong thành-phần tị-nạn rất phức-tạp đang xảy ra. Tổng Tham-Mưu-trưởng QLVN Cộng-Ḥa chỉ-định Đ/Tá Thiện vào chức-vụ Tổng-Trấn Phú-Quốc trong thời-chiến Đ/Tá Thiện được phép kết-án Tử-H́nh mà không chờ án-lệnh của ṭa. Từ khi nhận được lệnh của trên giao, Đ/Tá Thiện đă thận-trọng và trừng-trị những tên tội-phạm có tang-chứng trong bọn người lợi-dụng t́nh-thế rối-ren quấy phá đoàn người di-tản, để đem lại an-ninh trật-tự cho đảo Phú-Quốc. Thủ-Khoa ngành Cơ-Khí là Đoàn-Văn-Tiếng, cấp-bậc cuối cùng là Tr/Tá.

- Khóa 8 : Đệ Nhất Hổ-Cáp
Tổng số có 48 Sinh-Viên gồm 38 ngành Chỉ-Huy và 10 ngành Cơ-Khí. Nhập trường tháng 01 năm 1958 thời gian thụ-huấn 2 năm. Măn khóa tháng 01 năm 1960 với cấp-bậc Thiếu-Uư. Khóa 8 là khóa đầu tiên do Giáo-Sư và Huấn-Luyện-Viên người Việt-Nam hoàn toàn đảm-trách. Sinh-Viên Thủ-khoa là Trịnh-Tiến-Hùng, cấp-bậc cuối cùng là Tr/Tá. Người mang cấp-bậc cao nhất của khóa 8 là HQ Đ/Tá Lê-Hữu-Dơng, Chỉ-Huy-Trưởng Lực-Lượng Đặc-Nhiệm 99. Hậu-cứ của LLĐN/99 tại CCHQ Nhà-Bè. Đây được coi như là lực-lượng tổng trừ-bị của Hải-Quân kể từ khi Phó Đô-Đốc Chung-Tấn-Cang là Tư-Lệnh vào cuối tháng 03 năm 1975

- Khóa 9 : Đệ Nhất Nhân-Mă
Tổng số có 37 Sinh-Viên gồm 28 ngành Chỉ-huy và 09 ngành Cơ-Khí. Nhập trường tháng 03 năm 1959 thời gian thụ-huấn 2 năm. Măn khóa tháng 05 năm 1961 với cấp-bậc Thiếu-Uư. Sinh-Viên Thủ-Khoa là Hà-Ngọc-Lương, cấp-bậc và chức-vụ cuối cùng là HQ Tr/Tá Hà-Ngọc-Lương, Trưởng-Khối Văn-Hóa-Vụ Trung-Tâm Huấn-luyện Nha-trang. Ngày thành-phố Nha-Trang di-tản, Tr/Tá chạy vào chạy ra cố sức thuyết-phục vợ. Tr/Tá Lương chở vợ con từ cư-xá Lê-Văn-Duyệt vào tạm-trú tại pḥng làm việc của Văn-Hóa-Vụ Trưởng. Vào phút chót vợ Tr/Tá Lương thay đổi ư-kiến và quyết-định không chịu đi. Biết không thể nào sống được với Cộng-Sản nên Tr/Tá Lương đă hốt-hoảng tự-sát cùng vợ và 5 con. Xác của 7 người được một số Hạ-Sĩ-Quan ở lại trong đó có Tr/S Tô-Thừa đem đào huyệt chôn ngay tại băi cát bên trái Công-Viên Trần-Hưng-Đạo. Mấy tháng sau thân-nhân của gia-đ́nh bà Lương trở về và cải-táng. Sự việc trên gây bàng-hoàng và xúc-động cho toàn quân-chủng Hải-Quân. Thủ-Khoa ngành Cơ-Khí của khóa 9 là Mai-Văn-Hoa, cấp-bậc sau cùng là Trung-Tá. Người mang cấp-bậc cao nhất của khóa 9 là HQ Đ/Tá Nguyễn-Hữu-Xuân Tư-Lệnh-Phó Vùng 3 Sông-Ng̣i.

- Khóa 10 : Đệ Nhất Nam-Dương
Tổng số có 55 Sinh-Viên ngành Chỉ-Huy. Nhập trường tháng 07 năm 1960 thời gian huấn-luyện 2 năm. Ra trường ngày 14 tháng 07 năm 1962 với cấp-bậc Thiếu-Uư. Sinh-Viên Thủ-Khoa là Lê-Bá-Thông, cấp-bậc sau cùng Trung-Tá. Đầu năm 1974 HQ Tr/Tá Lê-Văn-Thự Hạm-Trưởng HQ 16 trực-tiếp tham-dự trận hải-chiến Hoàng-Sa.

- Khóa 11 : Đệ Nhất Bảo-B́nh
Tổng số 82 Sinh-Viên ngành Chỉ-Huy. Nhập trường 01.09.1961, thời gian thụ-huấn 18 tháng. Ra trường ngày 14.04.1963 với cấp-bậc Thiếu-Uư. Sinh-Viên Thủ-Khoa là Trần-Quang-Thiệu. Đầu năm 1974 HQ Tr/Tá Vũ-Hữu-San Hạm-Trưởng HQ 4 và HQ Tr/Tá Phạm-Trọng-Quỳnh Hạm-Trưởng HQ 05 trực-tiếp tham-dự trận hải-chiến Hoàng-Sa.

- Khóa 12 : Đệ Nhất Song-Ngư
Tổng số 102 Sinh-Viên ngành Chỉ-Huy. Nhập trường ngày 13 tháng 08 năm 1962, thời gia thụ-huấn 18 tháng. Ra trường tháng 03 năm 1964 với cấp Thiếu-Uư. Sinh-Viên Thủ-Khoa là Trần-Trọng-Ngà. Đầu năm 1974 HQ Th/Tá Ngụy-Văn-Thà Hạm-Trưởng HQ 10 hy-sinh trong trận hải-chiến Hoàng-Sa được truy-thăng cố Tr/Tá.

- Khóa 13 : Đệ Nhị Dương-Cưu
Tổng số 115 Sinh-Viên ngành Chỉ-Huy. Nhập trường tháng 5 năm 1963, thời gian thụ-huấn 18 tháng. Ra trường tháng 12 năm 1964 với cấp-bậc Thiếu-Uư trừ-bị. Sinh-Viên Thủ-Khoa là Phạm-Gia-Chính. Đặc-biệt khóa 13 ngoài số Sinh-Viên tân-tuyển c̣n có 7 Sĩ-Quan đă tốt nghiệp khóa 16 trường Vơ-Bị Quốc-Gia Đà-Lạt ngày 22 tháng 12 năm 1962. Các Sĩ-Quan hiện-dịch đó là: Th/Úy CB Hoàng-Trọng-Biểu, Th/Úy CB Nguyễn-Hồng-Diệm, Th/Úy CB Nguyễn-Duy-Long, Th/Úy CB Phùng-Gia-Mùi, Th/Úy CB Nguyễn-Như-Phú, Th/Úy CB Hoàng-Đ́nh-Thanh và Th/Úy CB Nguyễn-Đức-Thu. Khi khóa 13 ra trường th́ 7 Sĩ-Quan trên cũng đến ngày thăng cấp HQ Tr/Úy hiện-dịch và đầu năm 1965 th́ Nghị-Định được ban hành. - Khoá 14 : Đệ Nhị Kim-Ngưu
Tổng số có 100 Sinh-Viên gồm 80 ngành Chỉ-Huy và 20 ngành Cơ-Khí. Thời-gian thụ-huấn 18 tháng, nhập trường vào tháng 04 năm 1964. Măn khóa vào tháng 12 năm 1965 với cấp-bậc Thiếu-Uư. Như phần đầu có nói khóa 14 trong thời-gian c̣n vài tháng đến ngày măn khóa đă bị một quả Rocket rơi trúng ngay pḥng ngủ, gây thương vong cho nhiều Sinh-Viên. Trong số đó có 3 người tử thương là : Nguyễn-Hữu-Trang, Nguyễn-Đăng-Đóm và Đinh-Ngọc-Tri. Sáng ngày 30 tháng 04 năm 1975, sau khi Tổng-Thống Dương-Văn-Minh ra lệnh đầu hàng, lúc bấy giờ HQ Th/Tá Lê-Anh-Tuấn là Chỉ-huy-Trưởng Giang-Đoàn 43 Ngăn-Chặn thuộc Lực-Lượng Đặc-Nhiệm 214, cùng với Giang-Đoàn 64 Tuần Thám do HQ Thiếu Tá Trương Minh Hoa`ng ( Khoá 14 HQNT ) làm Chỉ-Huy-Trưởng đồn-trú tại Căn-Cứ Hải-Quân Tuyên-Nhơn, đây là một Căn-Cứ rất kiên-cố. Đêm 30 tháng 04 năm 1975 Th/ Tá Tuấn không chịu buông súng đầu hàng Việt-Cộng, biết không thể nào lật ngược được thế cờ nên đă anh-dũng “tuẫn-tiết “ trên một giang-đĩnh tại Kinh Thủ-Thừa tỉnh Long-An rạng ngày 01 tháng 05 năm 1975. Để tỏ ḷng ngưởng-mộ như một vị anh-hùng, bạn bè cùng khóa 14 HQNT đă đem “ tro-cốt “ Th/Tá Tuấn sang Hoa-Kỳ và được an-vị tại chùa Giác-Minh ở Palo Alto gần San Jose. Sinh-Viên Thủ-Khoa là Trương-Minh-Hoàng. Sinh-Viên Thủ-Khoa Cơ-Khí là Trịnh-Long-Hải. - Khóa 15 : Đệ Nhị Song-Nam
Tổng số có 100 Sinh-Viên gồm 80 ngành Chỉ-Huy và 20 ngành Cơ-Khí. Thời-gian thụ-huấn 18 tháng, nhập trường vào tháng 11 năm 1964. Măn khóa vào tháng 07 năm 1966 với cấp-bậc Thiếu-Uư.Sinh-Viên Thủ-Khoa là Nguyễn-Thành- Lộc. Thủ-khoa Cơ-Khí là Trần-Chí-Hoạt. - Khóa 16 : Đệ Nhị Bắc-Giải
Tổng số có 136 Sinh-Viên gồm 106 ngành Chỉ-Huy và 30 ngành Cơ-Khí. Thời gian thụ-huấn 18 tháng, nhập trường vào tháng 01 năm 1966. Măn khóa vào tháng 07 năm 1967 với cấp-bậc Thiếu-Uư. Sinh-Viên Thủ-Khoa là Lư-Ngoc-Ẩn. Thủ-khoa Cơ-Khí là Phạm-Huy-Hy. - Khóa 17 : Đệ Nhị Hải-Sư
Tổng số có 135 Sinh-Viên gồm 102 ngành Chỉ-Huy và 33 ngành Cơ-Khí. Thời gian thụ-huấn 18 tháng, nhập trường vào tháng 8 năm 1966. Trong thời-gian đầu Sinh-Viên Vũ-Thế-Tiệp bị bệnh tiểu đường chết. Măn khóa vào tháng 08 năm 1968 với cấp-bậc Thiếu-Uư. Khóa 17 năm thứ hai gặp lúc biến-cố Tết Mậu-thân nên thời-gian học bị kéo dài thành ra 2 năm. Sinh-Viên Thủ-Khoa là Trần-Ngọc-Điển. Thủ-Khoa ngành Cơ-Khí là Trần-Vĩnh-Tuấn. - Khóa 18 : Đệ Nhị Xử-Nữ
Tổng số có 100 Sinh-Viên gồm 80 ngành Chỉ-Huy và 20 ngành Cơ-Khí. Một người đào-ngũ v́ quá hoảng sợ trong thời-kỳ huấn-nhục là Sinh-Viên Huỳnh-Kim-Tỷ, sau được bổ-sung thêm 1. Thời gian thụ-huấn 18 tháng, nhập trường tháng 09 năm 1967. Măn khóa vào ngày 14 tháng 07 năm 1969 với cấp-bậc Thiếu-Uư. Khóa 18 năm đầu gặp lúc biến-cố tết Mậu-thân nên thời-gian học cũng bị kéo dài thành ra 22 tháng. Sinh-Viên Thủ-Khoa là Trần-Anh-Tuấn. Thủ-Khoa ngành Cơ-Khí là Bùi-Ngọc-Anh. - Khóa 19 : Đệ Nhị Thiên-Xứng
Tổng số có 268 Sinh-Viên gồm 189 ngành Chỉ-Huy và 79 ngành Cơ-Khí. Thời-gian thụ-huấn 1 năm, nhập trường ngày 19 tháng 02 năm 1969. Đây là khóa đầu tiên trong chương-tŕnh ACTOV, đồng thời các khóa Trần-Hưng-Đạo OCS tại Hoa-Kỳ cũng bắt đầu có kế-hoạch chuẩn-bị. Khóa 19 măn khóa vào ngày 21 tháng 02 năm 1970 với cấp-bậc Chuẩn-Úy. Sau một năm thực-tập OJT sẽ mang cấp-bậc Thiếu-Úy. Sinh-Viên Thủ-Khoa là Lê-Văn-Từ. Thủ-Khoa Cơ-Khí là Đỗ-Khắc-Mạnh. - Khóa 20 : Đệ Nhị Hổ-Cáp
Tổng số có 270 Sinh-Viên gồm 200 ngành Chỉ-Huy và 70 ngành Cơ-Khí. Một Sinh-Viên đào ngũ là Phan-Thiếu-Dương, ba Sinh-Viên chuyển ngành là: Nguyễn-Hữu-Hải học Sĩ-Quan Cảnh-Sát, Nguyễn-Văn-Huê học Sĩ-Quan Thủ-Đức và Ngô-Trọng-Các nguyên là Thiếu-Úy CB không chịu chương-tŕnh huấn-nhục. Thời-gian thụ-huấn 1 năm, nhập trường ngày 17 tháng 08 năm 1969. Măn khóa vào ngày 17 tháng 08 năm 1970 với cấp-bậc Chuẩn-Úy. Sau một năm thực-tập OJT sẽ mang cấp-bậc Thiếu-Úy. Sinh-Viên Thủ-Khoa là Lưu-Đức-Huyến. Thủ-Khoa Cơ-Khí là Lê-Vĩnh-Hiệp.

- Khóa 21 : Đệ Nhị Nhân-Mă
Tổng số có 270 Sinh-Viên gồm 135 ngành Chỉ-Huy và 135 ngành Cơ-Khí.
Thời-gian thụ-huấn 1 năm, nhập trường ngày 04 tháng 03 năm 1970. Măn khóa vào ngày 20 tháng 03 năm 1971 với cấp bậc Chuẩn-Uư. Sau một năm thực-tập OJT sẽ mang cấp-bậc Thiếu-Uư. Sinh-Viên Thủ-Khoa là Phạm-Đức-Lai. Thủ-Khoa Cơ-Khí là Lê-Tất-Chánh. - Khóa 22 : Đệ Nhị Nam-Dương
Tổng số có 248 Sinh-Viên gồm 124 ngành Chỉ-Huy và 124 ngành Cơ-Khí. Nhập trường tháng 09 năm 1970, thời gian thụ-huấn 1 năm. Măn khóa ngày 11 tháng 09 năm 1971 với cấp-bậc Chuẩn-Uư. Sau một năm thực-tập OJT sẽ mang cấp-bậc Thiếu-Uư. Sinh-Viên Thủ-Khoa là Nguyễn-Tấn-Khải. Thủ-Khoa ngành Cơ-Khí là Nguyễn-Thanh. - Khóa 23 : Đệ Nhị Bảo-B́nh
Tổng số có 282 Sinh-Viên gồm 140 ngành Chỉ-Huy và 140 ngành Cơ-Khí, có 2 người bị chết trong thời-gian đầu đó là Sinh-Viên Lê-Tuấn-Anh và Nguyễn-Ngọc-Nghị. Nhập trường ngày 14 tháng 4 năm 1971, thời gian thụ-huấn 1 năm. Đây là khóa cuối trong chương tŕnh ACTOV kể cả các khóa OCS Trần-Hưng-Đạo tại Hoa-Kỳ cũng đến khoá 12 là chấm dứt. Măn khóa ngày 15 tháng 04 năm 1972 với cấp-bậc Chuẩn-Uư. Sau một năm thực-tập OJT sẽ mang cấp-bậc Thiếu-Uư. Sinh-Viên Thủ-Khoa là Nguyễn-Công-Minh, Thủ-Khoa ngành Cơ-Khí là Nguyễn-Thế-Hùng. - Khóa 24 : Đệ Nhị Song-Ngư
Tổng số có 279 Sinh-Viên ngành Chỉ-huy. Nhập trường ngày 28 tháng 09 năm 1971, thời gian thụ-huấn 2 năm. Măn khóa vào ngày 01 tháng 09 năm 1973 với cấp-bậc Thiếu-Uư. Sinh-Viên Thủ-Khoa là Trần-Văn-Thuận. - Khóa 25 : Đệ Tam Dương-Cưu
Tổng số có 185 Sinh-Viên ngành Chỉ-Huy. Nhập trường ngày 15 tháng 11 năm 1972, thời gian thụ-huấn 2 năm. Măn khóa ngày 03 tháng 09 năm 1974 với cấp-bậc Thiếu-Uư. Sinh-Viên Thủ-Khoa là Nguyễn-Chí-Thành. - Khóa 26 : Đệ Tam Kim-Ngưu
Tổng số có 182 Sinh-Viên ngành Chỉ-Huy. Nhập trường tháng 08 năm 1973, thời gian thụ-huấn 2 năm. Tháng 10 năm 1974 thi măn giai-đoạn 1 mang cấp-bậc Sinh-Viên Chuẩn-Uư. Dự-tính sẽ thi măn khóa vào tháng 08 năm 1975. Tuy nhiên v́ hoàn cảnh đất nước đă đến lúc sôi-động. Việc thu-nhận Sinh-Viên khóa 27 bị đ́nh-trệ, do đó khóa 26 vẫn chưa có thêm khóa đàn em theo như truyền-thống từ trước. Đầu tháng 03 năm 1975 HQ Tr/Tá Nguyễn-Văn-Nhựt CHP được thuyên-chuyển về BTL/HQ. HQ Tr/tá Nguyễn-Nam-Thanh ( Khóa 7 HQNT ) thay thế. Cuối tháng 03 năm 1975 Phó Đề-Đốc Nguyễn-Thanh-Châu nhận được lệnh chuẩn-bị di-tản toàn bộ Trung-Tâm. Ngày 02 tháng 04 Hải-Vận-Hạm Hậu-Giang HQ 406 do HQ Tr/Tá Nguyễn-Quốc-Trị ( khóa 10 HQNT ) là Hạm-Trưởng vào vịnh Nha-Trang để đón.Trong cảnh xôn-xao náo-loạn từ mọi phía như dân chúng và giới quân-nhân. Chiến-hạm không thể nào giữ được an-ninh để ủi băi trước công-viên Trần-Hưng-Đạo mà phải đánh lạc hướng đám đông. HQ 406 vào vịnh Cầu-Đá từ đó liên-lạc máy cho TTHL. Khoảng chừng trên 400 Sinh-Viên,Học-Viên Chuyên-Nghiệp cùng Đại-Đội 2 của Trung-Tâm chạy bộ xuống Cầu-Đá. Tại đây người chen lấn đông-đúc và dẫm bừa lên nhau, có người bị chết. Một số lên được tầu, một số phải đi quá-giang ghe Duyên-Đoàn để vào đến Cam-Ranh mới lên được chiến-hạm. Phó Đề-Đốc Nguyễn-Thanh-Châu được di-tản bằng phi-cơ, cuối cùng th́ toàn bộ Trung-Tâm về đóng quân tại CCHQ/Cát-Lái. Hai tuần sau di chuyển về Sở-Thú Saig̣n trách-nhiệm pḥng-thủ thành-phố cho đến ngày 30.04 năm 1975.

VII - Các Khu-Vực Phụ ( Phụ-Bản C )

Khu-vực nằm đối-diện với TTHL/HQ/NT trước đây chỉ là một băi cát của bờ biển mà thôi. Bên phải tiếp giáp với đầu xóm Chụtt, bên trái tiếp giáp với băi-ủi thuộc Quân-Vận 5 Nhatrang. Được chia thành 4 khu-vực riêng biệt ( xem sơ đồ Phụ-Bản C ).
1 ) Khu-Vực I : Đây là khu bến tầu, có cầu tầu và băi-ủi của công-ty Alaska. Ranh giới tiếp giáp với khu dân cư Chụtt cho đến rào ngăn cư-xá Trần-Hưng-Đạo. Tại khu này vào năm 1953, thời kỳ c̣n Hải-Quân Pháp, một chiến-hạm loại LST ủi-băi để tiếp-tế đạn dược và vũ-khí cho quân-đội Pháp tại Nhatrang. Trong khi chuyển đạn lên bờ, bị lực-lượng Việt-Nam chống Pháp đặt bom. Tầu đạn bị nổ tung bỏ xác tại băi này. Năm 1965, Tổng-Thống Mỹ cho Quân-Lực tham-chiến vào miền Nam trợ giúp cho QLVN/CH chống Cộng-Sản. Nhiều cơ-sở dân-sự và quân-đội của Mỹ được thiết-lập như phi-trường quân-sự Mỹ có cổng vào ngang qua trước trại Tây-Kết. Trại Hoàng-Diệu thuộc Binh-Chủng Thủy-Quân Lục-Chiến, phi-trường Không-Quân Nha-Trang. Căn-cứ Mc Dermott khu Cửa-Bé B́nh-Tân, căn-cứ Radar pḥng không và Pḥng-Thủ Hải-Cảng trên đỉnh núi Cầu-Đá đối-diện với ḥn Bảy-Miếu. Kể cả TTHL/ HQ/NT, có nhu cầu tiêu-thụ điện rất cao. Nhà máy đèn Chụtt không thể cung-cấp nổi. Do đó Hoa-Kỳ thuê 2 tầu dân sự thường xuyên neo tại khu-vực này để cung-cấp điện cho tất cả các nơi trên. Cho đến năm 1972 khi chương-tŕnh ACTOV hoàn tất th́ 2 tầu điện cũng chấm dứt nhiệm-vụ và rút đi.
2 ) Khu-Vực II : Đây là khu cư-xá Trần-Hưng-Đạo. Hoa-Kỳ đă có kế-hoạch nhằm thực-thi chương-tŕnh ACTOV năm 1969 chung cho toàn quân-chủng HQ. Đoàn Công-Binh kiến-tạo “ Sea Bee “ của HQ Hoa-Kỳ khởi công xây cất nhiều nơi. Tại Nhatrang khu gia-binh V2 DH nằm phiá trong Ngă-Ba đường B́nh-Tân cạnh trại Tây-kết và trại gia-binh TTHL nằm đối-diện, cũng có xây cả trường tiểu-học tại đây. Khu cư-xá Sĩ-Quan Trần-Hưng-Đạo nằm trước quân-trường tại khu 2, tiếp giáp với công-viên. Toàn khu cư-xá có 64 căn, gồm 2 dăy nhà, mỗi dăy 10 căn dành riêng cho Thượng-Sĩ và HSQ Huấn-luyện-viên.Tám dăy, mỗi dăy 5 căn dành cho các Sĩ-Quan của V2DH và TTHL xử-dụng chung, thêm hai dăy, mỗi dăy 2 căn đôi dành cho SQ cấp-tá. Tất cả được đưa vào xử-dụng từ năm 1970.Ngoài ra TTHL c̣n có một cư-xá Sĩ-Quan từ trước gọi là cư-xá Lê-Văn-Duyệt Nha-Trang.
3 ) Khu-Vực III : Công-Viên Trần-Hưng-Đạo.
Trung-Tâm Huân-Luyện từ ngày Hải-Quân VN nhận lănh trách-nhiệm đào-tạo trực-tiếp tay nghề hải-nghiệp cho các người con của Tổ-Quốc yêu mộng hải-hồ. Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975 những ai đă vào ra cũng như xuất-thân từ quân-trường này, tất cả đă trở thành chuyện của quá-khứ. Nhưng có những kỷ-niệm khó quên đó là công-lao, thành-tích của những người đă đóng-góp vào sự đào-tạo và phục-vụ tích-cực tại quân-trường trong số đó ta phải nói đến cựu HQ Tr/Tá Kỷ-Sư Cơ-Khí Trần-Văn-Sơn, ông thuộc khóa 4 Brest tương-đương khóa 7 HQNT. Ông là thầy của những vị thầy, ông là một vị giáo-sư khả-kính đă đào-tạo nhiều thế-hệ học tṛ quân-đội cũng như dân-sự mà cụ-thể là trường trung-học Vơ-Tánh Nhatrang. Ông đă đắc-cử Dân-Biểu Việt-Nam Cộng-Hoà năm 1971, hiện nay ông là một b́nh-luận gia chính-trị có tầm-cở lấy bút-hiệu Trần-B́nh-Nam trong cộng-đồng tị-nạn Việt-Nam tại Hoa-Kỳ. Một người nữa không ai ngờ cũng như ít ai nghĩ tới, tuy rằng vết-tích vẫn c̣n lưu lại hiện nay tại Công-Viên quân-trường, ngay trước Trung-Tâm là công-viên Trần-Hưng-Đạo, người đó là cựu HQ Tr/Tá Nguyễn-Văn-Nhựt ( khóa 8 HQNT ) nguyên Chỉ-Huy-Phó TTHL/HQ/NT.
Giữa năm 1971 trong khi khoá 22 c̣n đang thụ-huấn th́ kế-hoạch xây-dựng tượng đă được bàn-thảo. Tháng 10 năm 1971 HQ Tr/Tá Nguyễn-Văn-Nhựt được thuyên chuyển ra Trung-Tâm Huấn-Luyện Nha-Trang đảm-nhận chức-vụ CHP, một chức-vụ mà HQ Tr/Tá Nguyễn-Trọng-Hiệp đương kiêm-nhiệm CHT làm trong thời-kỳ c̣n Đ/Tá Khương-Hữu-Bá là CHT trước đó 2 tháng. Lư-Do Xây-Dựng Công-Viên :


Khu vực 3 ( Phụ-Bản C ) trước Trung-Tâm, nguyên-thủy c̣n là một băi cát làm băi ủi rất tốt cho các tầu loại đổ-bộ và lên xuống hàng.Những ai đi qua lại đường Duy-Tân Chụtt cũng thấy vẻ thẩm-mỹ của TTHL/NT có mặt tiền nh́n ra biển đông rất xinh đẹp và thanh nhă. Nay v́ nhu-cầu tiếp nhận hàng, tiện-lợi cũng như an-ninh, nên BCH 5 Tiếp-Vận đă lập thành các kho chứa luôn tại băi. Trước mặt quân-trường đă có hàng đống CONEX chồng chất án-ngữ trông mất vẽ mỹ- quang. Ngay khi đảm-nhận nhiệm-vụ, Tr/Tá Nhựt đă được CHT giao cho trọng-trách khó-khăn này. Một dự-án công-viên chuẩn-bị theo bài bản đă có kế-hoạch từ trước được mang ra tái bàn-thảo.

Trong một buổi họp các Đơn-Vị-Trưởng hàng tháng tại BTL/HQ được tổ-chức vào cuối tháng 11 năm 1971. Tr/Tá Nhựt được chỉ-định đi họp thay CHT. Cơ-hội này, Tr/Tá Nhựt đă chuẩn-bị đầy đủ mô-h́nh công-viên Trần-Hưng-Đạo. Trong phần thuyết-tŕnh Tr/Tá Nhựt đă nêu ra động-cơ thúc đẩy gồm có 3 yếu tố : - Vẻ thẩm-mỹ cho quân-trường.
- Thu-hút du-khách đến viếng thắng cảnh.
- Nêu cao truyền-thống và noi-gương Thánh-Tổ theo mô-h́nh của công-trường Mê-Linh.

Bài thuyết-tŕnh được Tư-Lệnh HQ lúc bấy giờ là Đề-Đốc Trần-Văn-Chơn và các vị Tư-Lệnh Vùng cũng như CHT hiện-diện tán-đồng thuận-lợi. Sau đó qua mọi thủ-tục hành-chánh, Tư-Lệnh HQ đă tŕnh lên Bộ Tổng-Tham-Mưu. Được sự can-thiệp từ BTTM, Bộ-Chỉ-Huy 5 Tiếp-Vận Nha-Trang đă cắt nhường 200 mét băi trước cho TTHL. Từ đó dự-án được thi-hành mà trong tay không có một ngân- khoản nào. Mọi thứ đều nhờ vào những nguồn thu-nhặt do phế-thải t́nh-cờ từ các Căn-Cứ Mỹ tại Cam-Ranh, Nha-Trang đă rút đi và do sự quen biết giúp-đở, cũng như nguồn nhân tài vật lực dựa vào sức ḿnh. Ông đă kiên tŕ, chịu khó, không quản-ngại nắng mưa, hy sinh cả thời-gian riêng tư và tốn kém để vượt mọi trở-lực đem lại sự thành-công là xây-dựng được một công-viên có ư-nghĩa, một tượng-đài Thánh-Tổ có sử-tích. Những chi-tiết như Tứ-Phương: làm nền, tượng trưng cho Đông, Tây, Nam, Bắc. Tám-Hướng : Là 8 mặt. Mặt trước ghi danh xưng của Thánh-Tổ, mặt sau ghi Hội-Nghi Diên-Hồng. Ba mặt kế tiếp bên phải ghi các trận thủy-chiến : Chương-Dương, Hàm-Tử, Tây-Kết. Ba mặt kế bên trái ghi : Vân-Đồn, Vạn-Kiếp, Bạch-Đằng. Phần thân bệ đứng h́nh thoi, mũi hướng ra biển. Chiều cao toàn bộ của tượng và chân đế tối đa 14 mét. Không được phép làm cao hơn v́ sợ bị trở ngại cho phi-đạo của phi-trường Nha-Trang. Đó là chi-tiết của mô h́nh mà sau khi hoàn tất th́ cũng y như vậy. C̣n nói về phần thân tượng và áo giáp th́ lấy mẫu từ Thư-Viện Quốc-Gia. Do Sinh-Viên 24 đi phép về Saig̣n đem theo giấy giới thiệu của quân-trường xin sao chép và copy lại các h́nh ảnh. Khi thực-hiện công-tŕnh th́ một cánh tay mặt đă giúp ông là cựu HQ Th/Tá Nguyễn-Dinh ( Khóa 13 HQNT ) Liên-Đoàn-Trưởng Sinh-Viên, một cánh tay trái nữa cũng đă đóng-góp vào sự thành-công là HQ Th/Tá Tôn-Thất-Nghĩa ( Khóa 13 HQNT ) Liên-Đoàn-Trưởng Chuyên-Nghiệp. Đặc biệt Trưởng-Khối Tiếp-Vận là HQ Th/Tá CK Mai-Văn-Hoa ( khóa 9 HQNT )đă yểm-trợ vật-dụng và phương tiện cho công-tŕnh thi-công suông sẻ. Đầu năm 1972 chương-tŕnh thi-công bắt đầu vào một buổi sáng đẹp trời ngày chúa nhật. Sinh-Viên khóa 23 phân-lô và cắm cộc theo mô-h́nh. Một tuần sau Liên-Đoàn Sinh-Viên và Liên-Đoàn Chuyên-Nghiệp chỉ định một số tạp-dịch để phụ-trách đào móng chân tượng và đóng cừ. Khởi đầu đào 4 góc và một lỗ móng ở giữa. Cừ là những cọc sắt kẽm gai do ban pḥng-thủ là HQ Th/Tá Đặng-Hữu-Thân ( khóa 12 HQNT ) cung-cấp. Cọc sắt mỗi cây dài 1m80, bề sâu của cọc cừ trên 5mét. Được hàn dính nối-tiếp nhau và dùng búa tạ loại 10 kg. Luân-phiên đóng bằng sức người, mỗi người thử sức vài búa là thay thế. Việc đào móng và đóng cừ cũng phải mất vài tháng, v́ khi đóng cừ xong th́ hàn chéo góc nối-tiếp các chân cừ rồi đổ bê-tông. Tháng 04 năm 1972 khóa 23 ra trường, công-việc tiếp-tục do khóa 24 đảm-trách. Tiếp đến Liên-Đoàn Sinh-Viên c̣n phải tham-gia tập diễn-hành chuẩn-bị cho ngày Quân-Lực 19-06-1972. Khóa 24 chọn 160 về Saig̣n, số c̣n lại vẫn học tại trường và làm công-viên. Cuối tháng 6 thành-phần diễn-hành xong từ Saig̣n trở về trên chiến-hạm HQ 502. Ngày 15 tháng 11 trường tiếp-nhận Sinh-Viên khóa 25. Lúc này khóa 24 mới làm xong tới phần bệ đứng của tượng cao 10 mét. Ban xây-dựng tượng của khóa 24 miệt-mài làm công-tác ban ngày, ban đêm th́ lên lớp học, xem lại các bài vở mượn của bạn bè cùng khóa. Để cho công-việc xây-dựng tượng được liên-tục và nhanh chóng, khóa 25 cũng được tuyển-chọn có anh Trịnh-Văn-Nhơn là cựu Sinh-Viên Kiến-Trúc và một số bạn cùng khóa. Một điều đáng ca-ngợi là Sinh-Viên khóa 24 và khóa 25 đă hoàn-tất mỹ-măn việc học và hoàn-tất công-việc được giao-phó cho công-tŕnh xây-dựng Tượng Thánh-Tổ cũng như thiết-trí công-viên Trần-Hưng-Đạo đúng theo dự-tính của Tr/Tá Chỉ-Huy-Phó. Từ ngày có nhóm phụ-trách công-viên của Sinh-Viên khóa 25 tham-gia hợp-lực cùng khóa 24 th́ công-việc tiến-hành có kết-quả nhanh chóng.

Ngày khóa 24 ra trường vào tháng 09 năm 1973 cũng là lúc khánh-thành giai-đoạn 1 cho công-viên. Đó chỉ mới xong phần tượng chính và cḥi Tao-Ngộ. Một điều đáng nói lên ở đây là với công-tŕnh tương-đối to lớn mà được hoàn tất rất tốt đẹp. Không một tai nạn đáng tiếc hoặc trở ngại ǵ xảy ra trong hoàn cảnh cực kỳ khó-khăn, eo hẹp về phương-tiện vật-chất và tài-chánh. Tất cả đă nói lên sự nhiệt-tâm, sáng tạo của lớp trẻ và tấm ḷng hăng-say đóng góp công-sức. Phần Tượng đă xong th́ kế đến phần công-viên. Nói đến công-viên th́ phải nghĩ đến việc xây Thánh-Miếu và Tượng ngồi sát phiá phải. Đồng thời để trang điểm cho công-viên hoa cảnh thêm thơ mộng và quyến-rũ du-khách. Sinh-Viên khóa 25 đă cống-hiến cho TTHL/HQ/NT 4 ghế dài bằng đá rửa để đặt tại cḥi Tao-Ngộ, mỗi cḥi 2 chiếc. Thánh-Miếu và Tượng ngồi do Sinh-Viên 25 đảm-trách công-việc, vẽ kiểu và đúc “ Lưởng-Long Tranh-Châu “ trên nóc Thánh-Miếu. Cho đến khi măn khóa vào ngày 03 tháng 09 năm 1974 là kịp khánh-thành giai-đoạn 2. Quân-trường lúc này chỉ c̣n lại Sinh-Viên khóa 26 tiếp-tục hoàn-chỉnh phần Thánh-Miếu và Tượng ngồi. Cho đến trước ngày di-tản 01.04.1975 th́ mọi việc chỉnh-trang công-viên vẫn được khóa 26 tiếp-tục đảm-trách. Công-tŕnh đó ngày nay vẫn c̣n lưu lại vết-tích. Một công tŕnh được hoạch-định và thực-thi kéo dài suốt hơn 3 năm trời, đă trải qua 3 lần măn khóa, với sự đóng góp tích-cực của Sinh-Viên khóa 23, 24, 25, 26, Liên-Đoàn Khóa-Sinh Sơ-Đẳng Chuyên-Nghiệp và nhân-viên cơ-hữu của Quân-Trường.Trong số đó thành-quả to lớn nhất phải nói là sự đóng góp của Sinh-Viên 24 và 25.Chi-tiết xây-dựng và đóng góp công-sức của khóa 24 sẽ được nêu trong tài-liệu viết riêng cho Đệ Nhị Song-Ngư. Ngày nay không thể nói thành-quả đó thuộc về một nhóm nào. Mỗi người, mỗi khóa đều có từng giai-đoạn khác nhau. Tuy nhiên trọn vẹn cho thời-gian thụ-huấn tại Trung-Tâm trong 2 năm là có khóa 24 và 25 đă tham-gia mọi công-tác được giao-phó. Ngày nay thành-quả đó đang bị bỏ rơi và lăng quên, một số bị hư-hỏng theo thời-gian, do thiếu tu-bổ, do bàn tay phá-hoại của Cộng-Sản. Một thành quả mà theo nguồn dư-luận của giới xe LAM chạy đường Duy-Tân Chụtt rất hoan-nghênh, nhờ đó mà ăn nên làm ra do tiếng tăm và quyến-rủ khách viếng thăm. Theo lời kể của một cựu SQ HQ tên “ H...” tại Nam Cali đă về và có ghé lại công-viên ngày xưa, nơi mà chính anh và bạn anh đă bỏ nhiều công sức xây-dựng. Được biết như sau : Ngày 30 tháng 04 năm 1975 Cộng-Quân vào tiếp-quản Trung-Tâm. Dân-cư gần đó cho biết “ Bọn vô thần ra sức hủy-hoại các thành-quả mà chế độ Việt-Nam Tư-Do đă tạo nên. Tên Thủ-Trưởng đem “ Tượng-Thánh ngồi “ vứt xuống biển dự-tính lấy Thánh-Miếu làm nhà kho hay quầy hàng ǵ đó. Không ngờ tên Thủ-Trưởng sau đó bị phát bệnh điên, cho đến nay th́ Thánh-Miếu vẫn c̣n bị niêm-phong, không được xử dụng “. Riêng cư-xá Trần-Hưng-Đạo th́ một số nhà chỉ c̣n trơ nền xi-măng mà thôi! Ôi! Quân-Trường thân yêu và kỷ-niệm nay c̣n đâu!

4 ) Khu-Vực I V :
Kế tiếp công-viên Trần-Hưng-Đạo là khu-vực băi-ủi Tiếp-Vận 5. Dùng để cho các chiến-hạm ủi-băi lên xuống hàng cho Bộ-Chỉ-Huy 5 Tiếp-Vận Nhatrang. Tại nơi đây thi-thể của 7 người thuộc gia-đ́nh HQ Tr/Tá Hà-Ngọc-Lương được một số Hạ-Sĩ-Quan của TTHL/HQ/NT đem chôn cất sau khi toàn bộ Quân-Trường di-tản.

Mùa Hè Sydney Năm 2000
Nguyễn-Tấn-Đơn

Đính-Kèm
1 ) Phụ-Bản A Phóng-Đồ TTHL/HQ/NT
2 ) Sơ-Đồ Tổ-Chức TTHL/HQ/NT
3 ) Phóng-Đồ Các Khu-Vực Phụ Đối-Diện Quân-Trường
4 ) Sơ-Đồ Tổ-Chức Hệ-thống Tự-Chỉ-Huy Của Liên-Đoàn Sinh-Viên Sĩ-Quan