Giới thiệu Thơ Song Ngữ
The Bilingual Poetry
by Thong Ba Le
I. Thơ Song Ngữ
Gần ba mươi mốt năm kể từ
ngày đất nước Việt Nam thân
yêu rơi vào tay Cộng sản,
vào khoảng hơn hai triệu
người dân Việt Nam tha hương
tị nạn trên các nước Tư do
khắp thế giới. Họ tranh sống
qua ngày, gầy dựng gia đình
với giấc mộng con cái mình
có một căn bản học vấn thật
vững vàng để có thể hội nhập
vào xã hội mới, tại quốc gia
thứ hai của con cháu dòng
dõi Hồng Lạc.
Hầu hết các đấng làm cha mẹ
đều ước mong giáo dục con
cái mình theo truyền thống
Việt Nam, gìn giữ bảo tồn
văn hóa dân tộc, dạy con
viết chữ Việt, nói chuyện
với nhau bằng tiếng Việt.
Cộng đồng người Việt khắp
nơi đã hăng say tiếp tay với
các phụ huynh trong việc
huấn luyện những người muốn
con cái mình tiếp tục nói
đọc tiếng Việt để không quên
tiếng mẹ đẻ. Tuy nhiên vì
nhu cầu sinh kế cũng như
diều kiện học đường tại các
tiểu bang hay quốc gia định
cư, ý nguyện nói trên không
được thỏa mãn hoàn toàn
100%.
Đối với những con cái sinh
ra tại Việt Nam trước ngày
di tản, đã biết nói tiếng
Việt khi đến tị nạn tại các
quốc gia thứ hai, các trẻ em
và thanh thiếu niên này có
lợi điểm nhiều hơn và dễ
dàng trong việc đọc viết và
nói tiếng Việt nếu được tiếp
tục giáo dục, cùng một lúc
thâu nhận ngôn ngữ của quốc
gia tị nạn tại các học đường
cũng như tại các nơi các con
em đang làm vịệc. Các thanh
thiếu niên Việt Nam sinh ra
sau khi cha mẹ đến các quốc
gia tị nạn, nhất là khi cho
mẹ phải đi làm việc hằng
ngày hay sinh sống tại những
vùng không có hoặc ít người
đồng huơng cư ngụ, dần hồi
nói tiếng ngoại quốc, phần
lớn là Anh ngữ, nhiều hơn
tiếng mẹ đẻ. Đôi khi các em
này còn không hiểu tiếng
Việt Nam và chỉ nói tiếng Mỹ
khi giao thiệp với nhau mà
thôi. Đây là vấn đề mà không
một bậc phụ huynh người Việt
nào mong muốn con mình như
vậy cả.
Những mầm non tưong lai của
đất nước tại hải ngoại cần
phải có cơ hội phát triển
tâm hồn Việt đang tiềm tàng
trong họ để có thể tiếp tục
duy trì tinh thần yêu mến
quê hương ở phía bên kia bờ
biển Thái Bình Dương. Quan
niệm truyền thông hữu hiệu
vẫn là sự truyền đạt và phổ
biến tư tưởng qua văn thơ
trong ngôn ngữ mà người đối
diện hay độc giả có thể
thông hiểu hoàn toàn. Do đó
khi tác giả muốn người đọc
thưởng thức các sáng tác
phẩm của mình hoặc chấp nhận
tranh luận hay đồng ý với
quan điểm mà tác giả cần phổ
biến, họ phải viết bài của
mình bằng ngôn ngữ của độc
giả. Nói một cách khác, khi
muốn nêu lên một vấn đề với
người Mỹ, tác giả phải dung
tiếng Anh thay vì viết bằng
tiếng Việt.
Điều này được áp dụng trong
việc phổ biến tâm tình hoặc
là ưu tư, khắc khoải của
người đánh mất quê hương;
hay ghi lại vẻ đẹp thiên
nhiên, tình yêu trai gái, vợ
chồng với tâm hồn Việt Nam
của thi sĩ qua những vần thơ
Mỹ. Tác giả ước mong phổ
biến cái hay, cái đẹp đặc
biệt của thơ Việt đến các
độc giả trẻ Việt Nam, đang
ngày càng làm rạng rỡ giống
nòi Hồng Lạc qua những thành
công tuyệt vời và lớn lao
trên khắp mọi lãnh vực trong
cuộc sống tại quê hương thứ
hai.
Với mục đích đó, tác giả
viết bài này không có cao
vọng gì hơn là đề nghị làm
thơ song ngữ Việt Mỹ để giúp
các độc giả trẻ thông thạo
tiếng Anh nhưng chỉ đọc hiểu
chút đỉnh về Việt ngữ, có
thể tiếp tục thích thú
thưởng thức những vần thơ
hay, đẹp, trữ tình… qua hai
ngôn ngữ Anh và Việt.
Đây không phải là thơ dịch
thuần túy từng chữ môt vì
không có bất cứ ngôn ngữ nào
có thể diễn tả trung thực ý
thơ, thể điệu, âm vần… đặc
biệt của thơ Việt Nam mà thi
sĩ đã đem hết tâm huyết sáng
tác theo cảm hứng tuyệt vời
của mình. Tâm Việt, thơ Mỹ
là chủ đích của thi sĩ, một
đề tài, một tâm tư sang tác
bằng hai ngôn ngữ khác nhau.
Kinh nghiệm bản thân tác giả
đối với con cháu đã trưởng
thành, thường bày tỏ ý thích
thưởng thức thơ Việt của
cha, của cậu, của chú bác
mình, nhưng vói khả năng
giới hạn thông hiểu tiếng
Việt, các cháu đọc mà chỉ
hiểu sơ sơ, phải hỏi ý nghĩa
của những danh từ dùng trong
bài thơ.
Thí dụ nghĩa bóng của chữ
“bể dâu” trong một câu
thơ của tác giả. Ai trong
chúng ta cũng biết không thể
dùng chữ “mulberry sea”
hay “mulberry field”
để giảI thích hai chữ “bể
dâu” trong Truyện Kiều
của Nguyễn Du.
Tuy nhiên ý thơ rất phong
phú trong thơ Mỹ cũng diễn
tả được cảm xúc và tâm tình
của thi sĩ. Tác giả không
mấy ngạc nhiên khi đọc thi
phẩm của các thi sĩ người
ngoại quốc này và nhận thấy
trong thơ của họ cũng mang
nhiều âm hưởng chung của
thơ, kể cả thơ của người Á
Đông, trong đó có thơ của
Việt Nam. Cấu trúc, âm vần,
thể luật, thể điệu… tuy khác
hẳn với thơ lục bát, thất
ngôn bát cú, thơ Đường…
nhưng thơ (The Poetry)
Âu Châu rất phong phú và
thiên hình vạn trạng nếu
chúng ta sẵn sàng và cởi mở
chấp nhận vẻ đẹp đặc thù
khác lạ của vườn thơ bạn,
Cách lựa chọn và xửdụng “sức
tác dụng của chữ” (The
power of words) một cách
chính xác là động lực chính
trong việc sáng tác bài thơ
(The poem) của Âu
Châu, cũng tương tự như cách
áp dụng tuyệt vời từ ngữ
trong văn thơ Việt Nam. Thí
dụ, khi thi sĩ Mỹ muốn dùng
chữ “hòn đá” trong
bài thơ, nhà thơ lựa chọn
giữa chữ “stone” hay
là “rock”. Với thanh
âm “bằng” của chữ “stone”
kéo dài cho độc giả một ấn
tượng tròn trịa của hòn đá
viết trong thơ; ngược lại
thanh âm “trắc” của
chữ “rock”, ngắn gọn,
tạo cho người đọc một hình
ảnh của hòn đá sắc nhọn,
nhiều góc cạnh, diễn tả tư
tưởng trong vần thơ của tác
giả.
Một bài thơ Mỹ còn chứa đựng
những nét đặc thù (unique),
chi phối bởi hình thức (form),
thể thơ (style), âm
điệu (syllabic
groups), vần (rhyme),
thi luật (rule),
thước (meter), cước (leg),
thi đoạn (stanza),
bước (iambic feet)
của một bài thơ Mỹ…đặc biệt
là thể thơ 14 dòng (sonnet)
cổ điển, nổi tiếng từ xưa
của vườn thơ Âu Châu.
Tâm tình người thơ Việt Nam
được ghi lại trong sáng tác
phẩm viết với tất cả xúc cảm
của tâm hồn, được thông hiểu
bởi những nhân tài tương lai
người Mỹ gốc Việt và ngay cả
những người Hoa kỳ hay người
bản xứ qua bài thơ Anh ngữ
cùng chủ đề chứa đựng một
tâm tư và ý nghĩa của bài
thơ viết bằng Việt ngữ.
Đây là giấc mơ có thể thành
tựu với mục đích duy trì tấm
lòng Việt trong tư tưởng của
thanh thiếu niên đang sống
xa quê hương, để một ngày
nào đó, hy vọng họ sẽ theo
tiếng gọi thiêng liêng của
Tổ quốc, của con tim, của
lòng yêu nước, trở về đất
Mẹ, nối vòng tay mạnh, xây
dựng lại quê cha đất tổ thân
thương đã mong chờ ngày hồi
hương của đàn con Việt tha
phương, khi Tự do tái lập
trên quê hương Việt Nam mến
yêu.
II. The Bilingual Poetry
About thirty one years
ago, when Vietnam fell under
the dictatorship of
Communists, there were more
than two million Vietnamese
who were forced to flee for
their freedom to countries
around the globe.
The exodus lasted for
years and refugees finally
settled down in these free
countries, struggling to
raise their families with
nothing but hope. They hoped
that their children would be
able to get a good education
so that they could compete
with Americans in the work
market.
Most Vietnamese parents
tried their best to preserve
Vietnamese culture for their
children. They taught them
to read, to write and to
speak Vietnamese to one
another. The Vietnamese
community did a great job in
organizing classes to teach
Vietnamese to the children
so they would not forget
their native language. On
the other hand, due to their
demanding situations,
sometimes both parents had
to work. If the school
systems were too far away,
their wishes to have their
children attend Vietnamese
classes could not always be
achieved.
For the children who were
born in Vietnam who could
speak Vietnamese before
their parents emigrated, it
was much easier to continue
to speak their native
language and English was
their second language. But
for the children who were
born after they arrived in
their new countries, it was
more difficult if they lived
in areas where there were no
Vietnamese or very few
people who could speak
Vietnamese. Sooner or later,
many of these children
forgot their own language
and only communicated to one
another in English. The
parents, of course, were not
happy about this.
The future skillful young
generations of Vietnamese
abroad should have
opportunities to develop
their cultural spirit, the
root deep down inside their
souls and the love of their
Motherland across the
Pacific Ocean.
The most effective
communication has always
been the interaction with
one another in a language
that all parties could
thoroughly comprehend.
Therefore, when authors
wanted their readers to
enjoy reading their
masterpieces or when
participating in any debate
or expressing their
opinions, they had to write
or speak in appropriate
languages. In other words,
we had to communicate with
the American in English in
order for them to understand
us.
Vietnamese poetry had
always been a joyful and
memorable way to express
one’s feelings. Good
Vietnamese poems could make
some one smile or wipe away
their teardrops and the
Vietnamese-American readers
would remember those poems
forever if they could
appreciate them in English.
Inspired by the beauty of
Vietnamese poems, the author
was willing to try bringing
that feeling into American
verses so that he could make
them available to his new
young generation of Vietnam,
who had enjoyed its many
successes all over the
world, especially in the
United States of America.
These young
Vietnamese-Americans, who
could either only speak
fluent English or a little
in Vietnamese, would be to
appreciate these English
poems that embraced the
Vietnamese spirit.
The bilingual poems were
designed to fulfill the need
for conserving the spiritual
patriotic characters inside
the young
Vietnamese-Americans. But
these poems would not be
translated words by word
because there was no other
language that could exactly
express the feeling, the "inside
meaning" of a Vietnamese
verse that had been written
from the author’s heart and
soul.
The author had been asked
many times by his children
and his relatives, who loved
poems, the meaning of
Vietnamese words that they
did not understand. For
example, the meaning of "bể
dâu" in a stanza of the
author’s poem could not be
translated into English as "the
mulberry sea" or "the
mulberry field" because
it had a different meaning
in Vietnamese. The English
poems were different in
their forms, rhymes, rules,
syllabic groups, styles,
iambic feet ...etc... from
the Vietnamese poetry "lục
bát "and " thất ngôn
bát cú ", or " Đường
luật "... The American
poets had effectively used
the power of English words
in their poetry like the
Vietnamese poets had done in
theirs. By using the word "stone,"
it created an image of a
round shape instead of "rock,"
that made readers think of a
sharp “uneven shape”, the
English poet had chosen the
correct word to describe his
feeling in that notable
environment. That the
English poems were
consistent in their beauty
and variety made us
appreciate reading them.
Moreover, the feelings in
the English poetry were the
same as the feelings in the
Oriental poetry or in the
Vietnamese poems. It was not
surprising that the author
and his family enjoyed
reading all of the poems
because they were all
profoundly moving.
The feelings of a
Vietnamese poet that were
carefully written and
described in both English
and Vietnamese poems were
also understood and
appreciated by the future
leaders of Vietnam, the
skillful professional
Vietnamese-Americans abroad.
This is my reachable
dream of conserving the
patriot spirit in our young
future generations who are
now living away from their
homeland. With it is my hope
that some day, these young
Vietnamese-American people
will respond to the inner
voices of the "Spirit of
the Motherland" and will
follow their patriotic
consciences and go back
home, hand in hand to
rebuild a free Vietnam that
has been patiently awaiting
for the return of her
beloved children when the
freedom resumed.
III. Tâm Thơ Việt Mỹ
Hai bài thơ song ngữ sau
đây trích trong tập thơ
“Tâm Thơ Việt Mỹ”
đã diễn tả lòng ước muốn của
tác giả về việc thực hiện ý
niệm này:
The two following
bilingual poems that were
published in my Book of
Poetry:
"The Vietnamese
American Poetic Spirit"
had illustrated the desire
of my intention to promote
those ideas:
Self Perfection
"Do not believe in
anything (simply) because
you have heard it. Do not
believe in traditions
because they have been
handed down for many
generations. Do not believe
in anything because it is
spoken and rumored by many.
Do not believe in anything
(simply) because it is found
written in your religious
book. Do not believe in
anything merely on the
authority of your teachers
and elders. But after
observation and analysis,
when you find that anything
agree with reason and is
conducive to the good and
benefit of one and all then
accept it and live up to
it."
Buddha
(Kalama Sutta Anguttara
Nikaya, Vol. 188-193 P.T.S.
Ed)
Buddha taught us that
this life is just a
temporary one
like a river flowing from
its mountain alone
with challenges waiting at
every waterfall
and happiness is the
peaceful turn for all.
The passengers have chosen
their spots on the boat
with luggage are
well-prepared and ready to
go
The boat captain is only a
skillful guide
who steers the boat, the
rest is in their minds.
The journey with obstacles
and challenges
is waiting ahead for their
excellence
to carry out the task or to
make a decision
as a coward hiding inside of
this vision.
And the voyage will continue
with survivors
who reach the river mouth on
their arrival,
the finish of their short
and complicated life
and the captain returns
upstream, again to guide.
Giác Ngộ
Phật day rằng cuộc đời
này tạm bợ
Như con sông xuôi đổ từ
thượng giòng
Những thử thách là thách lũ
gàng cong
Và hạnh phúc khi ngước trôi
êm ả.
Người quá giang chọn cho
mình chỗ đứng
Trên con đò họ sắp sẳn hành
trang
Ông lái kia chỉ biết hướng
dẩn đàng
Phần sống còn tuỳ thuộc kẻ
ra đi.
Cuộc hành trình khó khăn
nhiều thử thách
Khách sang sông quyết định
cho chính mình
Hoặc chiến đấu trường hợp
cần hy sinh
Hay co rút trong khoang
thuyền chật hẹp.
Vượt giang trình cùng số
nguời còn lại
Đạt mức đến, điểm cuốI của
cuộc đời
Nuớc cuốn đò xuôi ra tận
biển khơi
Ông lái về, đưa khách đi
chuyến khác./.
*****
The Point Of Light
Above our interior our
spirit hides,
inside our faith the Lord
shines.
Stay away from the fear of
uncertainty.
Stay away from the force of
fury.
Human right is always for
human race,
people cry because of
loosing faith.
From time to time people
outline sorrow;
from time to time one
defines demeanor.
"Life is short, happiness, a
noble pursuit",
said the Sunday minister in
the dark suit.
The rich fool takes more and
more;
the rich fool wants encore
... encore.
The untouchables would get
the point of light.
The unbelieving would only
reach the end of life,
so open your mind to
holiness,
and your mind will open to
righteousness.
The meaning of immortality
is not present
but the gift for eternity-
mind- existence./.
Chân Lý
Sống nội tâm với tinh
thần minh mẫn
Hãy lánh đi vùng hiện hữu
cưu mang
Trong niềm tin đấng Tạo hóa
tiềm tàng
Rồi mở lòng đón tình yêu
tuyệt đối.
Nhân quyền đó ngàn đời vẫn
bất diệt
Làm châm ngôn hướng dẫn nhân
loại kia
Luôn than van buồn khổ khi
chia lìa
Rồi phấn khởi khi tình yêu
chợt đến.
Luận chủ đề chân lý như ánh
sao
Người Mục sư giảng dạy từ
sách thánh
“Đời ngắn ngủi, hạnh phúc là
cứu cánh”
Kẻ giàu điên tham vọng khát
khao nhiều.
Tìm chân lý nguyên cơ và
định mệnh
Nhà thông thái siêu phàm đạt
chân tâm
Kẻ không tin sống vội trong
âm thầm
Nhân gian mở tấm lòng cho
thánh thiện.
Nghĩa vĩnh cữu không phải là
hiện tại
Quà tinh thần thực hữu cõi
trường sinh./.
Link
to Lê Bá Thông xem Tiếp
Tập Thơ: Tâm thơ Việt - Mỹ
|