|
|
|
|
|
Hưng Đạo Vương Vị Đệ nhất công thần đời nhà Trần và là vị anh hùng dân tộc, vào khoảng cuối thế kỷ XIII. Chính ngài đã 2 lần chận đứng cuộc xâm lăng của quân Nguyên để bảo tồn nền độc lập cho đất nước.
Vốn người làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, phu? Xuân Tường, tỉnh Nam Định. Thân sinh ngài là An Sinh Vương Trần Liễu và cụ bà Nguyệt, thuộc dòng dõi tôn thất nhà Trần. Khi Thái Tử Thoát Hoan kéo gần 500 ngàn quân sang xâm lấn nước ta (vào tháng 10 năm Quý Mão 1283), Hưng Đạo Vương được vua Trần Nhân Tôn phong chức Quốc Công, Tiết Chê” thống lãnh tất cả binh sĩ để chống giữ bờ cõi
Các Ải Kha Li, Lộc Châu, Chi Lăng lần lượt bị rơi vào tay địch, Hưng Đạo Vương phải rút quân về Vạn Kiếp. Vua Nhân Tôn thấy quân ta thế yếu, vả lại binh sĩ ít, muốn hàng để trăm họ được yên. Ngài khẳng khái trả lời : Xin trước hãy chém đầu thần, rồi hãy hàng.
Vạn Kiếp bị uy hiếp, kế đến thành Thăng Long thất thủ, quân Trần khắp nơi bại trận, lớp bị giết, lớp xin hàng theo giặc. Trước tình thế nguy ngập, Hưng Đạo Vương phải rước vua Nhân Tôn và Thái Thượng Hoàng xuống Thiên Tường, nhưng sau đó lại chạy vào Thanh Hóa để lo kế lâu dài.
Khi quân sĩ đã luyện tập tinh thục, Hưng Đạo Vương truyền hạ lệnh phản công, phá được quân Toa Đô ở Hàm Tử Quan, thắng quân Nguyên ở Chương Dương Độ, trước khi khôi phục được thành Thăng Long. Quân ta đánh bại Toa Đô ở Tây Kết và giết được tướng giặc nguy hiểm này, thắng trận Vạn Kiếp. Thoát Hoan khiếp quá phải chui vào ống đồng, đặt lên xe, bắt quân kéo chạy mới thoát được về Tàu.
Lần thứ hai, vào mùa Thu năm Định Hợi (1287), Thoát Hoan lại kéo sang trên 300 ngàn quân để phục hận. Hưng Đạo Vương được cử thống lãnh các Vương Hầu để cự địch. Thấy thế giặc mạnh. Hưng Đạo Vương liền nhữ cho địch quân vào sâu trong nội địa, lại cho người rước xa giá vua và Thái Thượng Hoàng vào Thanh Hóa, mặc khác lo mưu phòng bị và chống ngăn.
Sau khi chặn đứng thế giặc tại Thăng Long, tiếp đến là việc thắng trận của tướng Trần Khánh Dư tại bến Vân Đồn, Hưng Đạo Vương biết thế nào quân địch cũng triệt thối, nên cho quân mai phục tại sông Bạch Đằng, lại áp dụng chiến lược của Ngô Quyền ngày trước, dùng ngọn thủy triều đại phá quân Nguyên vô cùng oanh liệt.
Khi nghe tin báo quân của Ô Mã Nhi đã kéo quân về đến Bạch Đằng, Hưng Đạo Vương mới hô quân sĩ, trỏ sông Hóa Giang mà thề rằng:Trận này không phá xong giặc Nguyên, thì không về đến sông này nửa!”. Quân sĩ ai nấy đều xin quyết chiến, kéo một mạch đến sông Bạch Đằng. Quan quân đánh cực hăng, toàn thể đều quyết chiến với quân thù, quân Nguyên chết như rạ, máu loang đỏ cả khúc sông.
Trong trận đại thắng này, ta tịch thâu trên 400 chiến thuyền, bắt sống mấy vạn quân Mông Cổ. Hay được tin dữ, Thái Tử Thoát Hoan, vội dẫn bọn tùy tướng trốn chạy về Tàu. Đến ải Nội Bàng, gặp phục binh của Hưng Đạo Vương, lại thua thêm một trận xiểng niểng. Tướng sĩ của Mông Cổ bị giết hại rất nhiều. Thoát Hoan may mắn được thoát vòng vây, qua Lộc Châu để chạy về châu Tư Minh.
Sau hai lần chiến thắng quân Nguyên, Hưng Đạo Vương đã đem lại cảnh thanh bình cho đất nước thân yêu. Ngài làm quan đến đời vua Trần Anh Tôn thì về trí sĩ tại Vạn Kiếp. Ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý (1300), Hưng Đạo Vương mất, thọ trên 70 tuổI, được phong tước Thái Sư Thượng Phụ Thượng Quốc Công Bình Bắc Đại Nguyên Soái Long Công Thịnh Đức Vĩ Liệt Hồng Huân Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương.
Ngoài những võ công oanh liệt giành độc lập cho xứ sở, nêu cao tinh thần bất khuất của dân tộc ta, Ngài còn để lại cho các nhà quân sự sau này những kinh nghiệm vô giá về cách dụng binh. Tương truyền, Ngài có soạn những tài liệu binh pháp để truyền dạy các tùy tướng như “ Binh Gia diệu lý yếu lược “, gọi tắt là “ Binh gia yếu lược “, và một bản sưu tập về những binh pháp của các nhà võ, làm thành một bức vẽ bát quái cửu cung gọi là “ Vạn Kiếp Tông Bí Truyền Thư “, hoặc “ Vạn Kiếp Binh Thư “. Những tài liệu này nay đã thất truyền.
|
|
|
|