Năm ngoái khi mùa hè vừa
bắt đầu có ảnh hưởng đến khí hậu vùng Hoa Thịnh Đốn với những
cơn gió nóng, oai bức thổi lên từ miền nam, trong một buổi sáng
sớm, khi mặt trời chưa mọc trên rặng cây thông trước sân nhà,
tôi đang ngồi viết một truyện ngắn hồi ký trong khi tiếng nước
róc rách từ chậu cá nghe thật rõ trong căn phòng làm việc của
tôi. Tâm tư đang vấn vương với dòng tư tưởng được trải dài trên
khung kính “monitor” của máy “computer” về kỷ niệm quá khứ, tôi
bỗng dừng lại, ý tưởng chợt đến với tôi khi ngón tay gõ lên “key
board” những chữ “Tỵ nạn tìm Tự Do”. Tôi ngừng tay, quay người
nhìn về phía chiếc bàn thờ Tổ quốc của tôi, nơi mà tôi đã cầu
nguyện và tìm chút thảnh thơi trong tâm hồn sau một ngày lao
động mệt mõi hơn mười bảy năm qua khi dọn về ở tại căn nhà này.
Trên bàn thờ, ngay ở giữa, nằm phía trước và dưới khung hình
nước Việt Nam, tượng trưng cho ý nguyện mong ước Tự Do cho quê
hương dấu yêu là bức tượng bán thân màu trắng làm bằng thạch cao
của Nữ Thần Tự Do, đang dịu hiền nhìn tôi. Một cảm hứng khi nghĩ
đến ngày kỷ niệm độc lập của Hiệp Chủng quốc sắp sửa đến trong
hai tuần lễ, làm tôi vội vàng “save” truyện ngắn tôi đang viết
và mở ra một “file” mới rồi bắt đầu để ý thơ đang dâng tràn theo
niềm cảm xúc, hiện lên trên khung kính. Sau gần hai giờ đồng hồ
nắn nót, lựa chọn âm từ cho đúng với ý nguyện và tâm tình của
mình, tôi đã hoàn tất một bài thơ “sonnet” 14 dòng, viết về
chiếc chuông Tự Do “Liberty Bell” của dân tộc Hoa kỳ đang trưng
bày tại Philapelphia thuộc tiểu bang Pennsylvania:
Liberty Dreamer
Liberty Bell, you’re standing alone.
Your many cracks, the history of which
are seen from across the Convention Hall.
In the Declaration’s birthplace of this
country of freedom and opportunities,
life, love and happiness are preserved
as well as the pursuit of liberty,
so justice, the human rights can be served.
Liberty Bell, spirit of the Land,
keep healing the world with freedom sounds,
the right to live is placed in people hands
‘til people discover dreams can be found.
Liberty Bell, you have not been standing alone
without your sounds, human rights would be gone.
Một tuần lễ sau, trước ngày 4 tháng 7, ngày kỷ niệm lễ độc lập
Hoa kỳ, tôi gửi “Email” và đính kèm bài thơ này với vài lời chúc
tụng và thăm hỏi đến những người bạn Mỹ thân tình đã quen biết
tại Việt Nam hoặc từ ngày đến định cư tại Virginia trong gần 23
năm qua. Tôi vô cùng thích thú khi nhận được nhiều “Email” và
điện thoại trả lời, khen ngợi về bài thơ cũng có, khuyến khích
và cảm kích cũng nhiều. Tuy nhiên có một điều làm tôi ngạc nhiên
không ít đó là việc mọi người đều cám ơn tôi đã nhắc nhở họ về
sự may mắn của bản thân những người bạn này về cuộc sống Tự Do
mà người Mỹ đã được diễm phúc, may mắn và phước lành vui hưởng
trong hơn hai thế kỷ vừa qua khi Hiệp Chủng quốc tuyên bố Tự Do
và Độc Lập vào năm 1776. Những bằng hữu Hoa kỳ này đã viết: “Đôi
lúc chúng tôi vì cuộc sống vội vã, lo lắng làm những công việc
nhiều áp lực hằng ngày mà quên nghĩ rằng chúng tôi đã và đang
vui sống trong Tự Do vì cho đây là điều đương nhiên, một món quà
của Thượng đế đã ban phước cho chúng tôi” và rồi họ kết luận:
“We have taken for granted and forget that we had to earn
it.”
Sự thú thật và điều nhận xét này làm cho tôi suy nghĩ mông lung
và niềm bâng khuâng buồn bã chiếm ngự hồn tôi nhiều tháng ngày
sau đó. Đôi lúc nhân loại đã không nhận thức được giá trị của
hai chữ Tự Do vì chưa khi nào bị tước đoạt Tự Do, một quyền sống
mà đấng Tạo hóa đã giành cho kẻ mà Người đã sáng tạo nên. Chỉ
khi nào phải sống trong nhục nhã, bị kềm kẹp, áp bức không được
hưởng quyền làm người, mất Tự Do, nhân loại mới thấy giá trị của
hai chữ Tự Do, một giá trị siêu hình, cao quí mà không một chính
quyền, tập thể, cá nhân hay đảng phái nào có thể phủ nhận được.
Những bài thơ mà tôi sáng tác trong thời gian qua, khi cảm hứng
từ mẩu chuyện thương tâm của các trẻ em nô lệ mất Tự Do, bị
những bộ lạc láng giềng thù nghịch bắt cầm tù, để đòi tiền chuộc
tại nước “Sudan”, Phi Châu mà tôi đã diễn tả qua bài thơ “Trẻ nô
lệ” với niềm xúc cảm vô biên:
Trẻ nô lệ
Chúng nó thơ thẩn bên đường
Trẻ con nô lệ nắng vương tóc bồng
Hai chân xiềng chặt cùm gông
Tôi nhắm mắt lại thấy lòng xót thương
Đêm nay trong giấc mộng thường
Mơ cảnh nô lệ đoạn trường sầu bi
Giọt lệ chan chứa hoen mi
Tại sao sống kiếp nô tì cô nhi?
Lũ giặc man rợ cướp đi
Giấc mơ gió núi vu vi trên ngàn
Tai nghe sư tử gọi đàn
Trong đêm thanh vắng dội vang rừng già
Nhân loại lòng thấy xót xa
Cùng nhau đóng góp thiết tha ân tình
Nô lệ sống lại an bình
Mong chờ thế giới chúng sinh mở long.
Chỉ mong được sống một cuộc đời bên cạnh núi rừng thiên nhiên,
đạm bạc, để khi đêm về nghe tiếng thú gọi đàn mà vẫn không được,
thật khổ thay cho các trẻ em mồ côi, mất Tự Do và những dân
“Sudan” đói khổ hàng ngày phải lê gót trên hơn năm cây số đường
rừng, đi nhận thức ăn từ những Trung tâm phân phối thực phẩm của
Liên Hiệp quốc, có những bà mẹ vì đói lã, nằm chết bên ven đồi
trên tay vẫn còn ôm đứa con sơ sinh cũng đã chết vì thiếu sữa
mẹ.
Tôi ngậm ngùi chua xót khi nhìn thấy
hình ảnh đau lòng nói trên được đăng trong
tạp chí “Life” trong một buổi
sáng nhiều sương mù đọng trên lá cây như những giọt nước mắt của
Đất Trời... Rồi tôi chạnh lòng nghĩ đến những thuyền nhân Việt
bạc phước, bỏ xác giữa biển khơi trên đường tỵ nạn:
Thân tả tơi trên biển Đông đầy gió
Chuyến hải trình vượt biển tìm Tự Do
Văng vẳng nghe bên tai tiếng reo hò
Bầy thảo khấu phá tan đời góa phụ...
Đoạn thơ trên đây của tôi chỉ nói lên phần nào nỗi đoạn
trường của các thuyền nhân Việt Nam và cái giá quá đắt phải trả
khi vượt biển đi tìm Tự Do và lánh nạn Cộng sản. Hàng ngàn người
dân vô tội Việt Nam, lìa bỏ nơi chôn nhau cắt rún, mồ mả tổ
tiên, bỏ lại sau lưng tất cả những gì quí giá nhất trong đời,
chen chúc nhau dưới khoang thuyền chật hẹp, dật dờ đau khổ trên
biển khơi đầy sóng gió, chỉ vì một lý do duy nhất: “Tìm lại Tự
Do đã bị tước đoạt khi quê hương dấu yêu bị mất vào tay độc tài
đảng trị”. Biển Đông đã trở thành mồ chôn của các người Việt yêu
chuộng Tự Do, thân xác rữa nát làm mồi ngon cho cá mập; đàn bà,
con gái đã là nạn nhân đau thương bị lũ thủy tặc Thái Lan hảm
hiếp trên những hải trình tìm đất mới, nơi có tượng Nữ Thần Tự
Do đang thắp sáng ngọn đuốc thiêng, hướng dẫn đường cho đàn con
tìm Tự Do về vùng đất hiền hòa, đầy tình thương.
Giá của Tự Do thật quá đắt, thế mà cho đến ngày hôm nay, còn có
bao nhiêu người tỵ nạn Cộng sản vẫn nhớ đến lý do chính yếu và
duy nhất về cuộc ly hương; cũng như câu trả lời của họ trước
đây, khi được hỏi tại sao phải chấp nhận nguy hiểm, phải lìa xa
đất nước Việt Nam mến yêu, ai cũng trả lời: “Vì muốn sống Tự
Do”. Ngày nayï có lẽ những người này đang thỏa mãn vui sống đầy
đủ trong vật chất và xa hoa, phù phiếm trên đất tỵ nạn; họ quên
mất lý do tại sao họ đã quyết định rời bỏ đất nước vào ngày 30
tháng 4 năm 1975, ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh Quốc Cộng,
ngày đau thương uất hận xảy đến cho quê hương Việt Nam và khởi
đầu một cuộc đổi đời.
Những người bị kẹt phải sống dưới ách độc tài, bị tước đoạt Tự
Do, sống cảnh tù đày trong các trại tập trung cải tạo của Cộng
sản, lê lất chuỗi đời và tấm thân gầy còm da bọc xương sau các
song sắt, trong chiếc sà lim tối tăm, trên sàn đất lạnh, chân bị
còng qua 13 năm dài dằng dặt, đếm tháng ngày bằng vết ghi trên
tường mà tôi đã cảm xúc sáng tác trong bài thơ “ Gông Cùm” để
kính tặng một vị linh mục đã bị giam cầm 13 năm trong ngục tù
Cộng sản tại vùng thượng du bắc Việt và sau đó được di chuyển về
trại giam ở Thanh Hóa khi Trung Cộng vượt biên giới Việt Hoa,
tấn công Cộng sản Việt Nam:
Gông Cùm
Dong tay cao muốn ôm níu mặt trời
Mắt ngước tìm bầu thế giới mù khơi
Qua khung cửa đóng khung hình chữ nhật
Bức tranh màu thay đổi chuỗi đời trôi
Buồn hắt hiu nhìn vách tường loang lổ
Đếm dấu ngày tháng giá ghi lại đây
Chiếc cùm chân chung sống kiếp tù đày
Tình bằng hữu con người và xích sắt
Tiếng xiềng lê rổn rảng sàn đất lạnh
Cung cao ngất tựa sóng cuộn trong tim
Đang dật dờ như muốn nuối tiếc tìm
Về dĩ vãng vàng son người tù ốm
Mười ba năm mình trở thành tri kỷ
Giữa trăng khuya cùng gió núi rừng gào
Len lỏi vào khe hở một ánh sao
Rồi ngẩn ngơ thì thào trong bóng tối.
Con người và chiếc cùm sắt đã trở thành đôi bạn tri kỷ dìu dắt
và tựa vào nhau để sống còn trong 13 năm với ý chí cương quyết,
kỳ vọng vào một ngày được thấy ánh sáng mặt trời, thở không khí
Tự Do. Vị linh mục này đã hãnh diện viết trong một tác phẩm ghi
lại kỷ niệm khủng khiếp kinh hoàng, nhân chứng cảnh giết chóc
tàn bạo vô lương tâm, nhẫn nhục chịu đựng đau thương khi sống
trong lao tù Cộng sản với một chân bị còng thường trực trong 13
năm trường. Thành kính khâm phục ý chí dũng mãnh bất khuất của
một tín đồ Chúa Ki tô và các vị niên trưởng chống Cộng triệt để
vì không muốn sống dưới chế độ độc tài và mất Tự Do.
Những nhân vật can trường, bất chấp mọi hiểm nguy và tranh đấu
cho công bằng, bác ái, cho lẽ phải, cho Tự Do, cho Nhân Quyền,
bị chính phủ độc tài bắt giữ và đưa ra xử án trước các phiên tòa
gọi là “Tòa án nhân dân”, một hình thức bịp bợm dùng công lý làm
công cụ của kẻ mạnh, độc tài đàn áp và kết tội những người chống
đối vì bất phục tùng, đã được tôi ghi lại với nguồn cảm hứng qua
một sáng tác tựa đề “ Bản án”, bài thơ viết chào kính vị Bác sĩ
đã hy sinh vinh hoa phú quí của nghề nghiệp để dấn thân vào cuộc
tranh đấu cho Nhân Quyền và Tự Do và kính tặng các anh hùng liệt
sĩ đang sống trong cảnh tù đày tại những trại giam của Cộng sản:
Bản án
Hắn đứng giữa tòa án của kẻ mạnh
Tay bị còng giật lại phía sau lưng
Lơ đểnh nghe kẻ thù nói chẳng ngừng
Kết tội hắn giúp đồng bào phản loạn
Rồi chỉ định đồ đệ làm nhân chứng
Không thi hành đúng luật pháp công bình
Chúng phủ quyết không nghe lời biện minh
Vì Tự Do Nhân Quyền mà hắn chống
Quyền làm người căn bản tự sơ khai
Lũ bạo quyền dùng vũ lực độc tài
Để đàn áp tiếng kêu than uất nghẹn
Với luật rừng chẳng hổ thẹn lương tâm
Hắn mỉm cười khinh bỉ nghe bản àn
Là tên điên kẻ phản lại chính quyền
Không đề cập vì Công Bằng Dân Chủ
Lũ độc tài bịp cả người dân ngu.
Tự Do không thể mua bằng vật chất hoặc dùng bạo lực để chiếm
đoạt hay đàn áp vì đây là một giá trị tinh thần vô giá, được Tạo
hóa đặc ân gắn liền với cơ thể, não bộ, tâm tư, tế bào khi con
người mới vừa cất tiếng khóc chào đời. Hãy nhớ đến sự chính yếu
và đích thực của lý do tại sao chúng ta rời bỏ quê cha đất tổ
trong ngày Quốc hận để cảm thông và tiếp tay với những người còn
phải sống dưới chế độ độc tài khắp nơi trên thế giới và đã xả
thân cho chính nghĩa, đấu tranh giành Tự Do cho chính họ.
Tự Do đã được trả bằng giá quá đắt với hàng ngàn thập tự giá nằm
trơ trọi, cô đơn và thẳng tắp trong nghĩa trang nơi yên nghỉ
ngàn đời của quân nhân Đồng Minh tại một vùng đất gần bờ biển
Normandy, Pháp quốc. Đó là một bằng cớ cụ thể của sự kiện lịch
sử nhân loại, đánh dấu một cuộc đấu tranh giải phóng Tự Do cho
dân tộc các nước Âu Châu, trong ngày trọng đại 6 tháng 6 năm
1944 khi quân lực Đồng Minh đổ bộ lên bãi biển Normandy, mở đầu
cho sự tàn lụi của chế độ độc tài quân phiệt Nazi, Đức quốc xã
của Hitler và đánh tan giấc mộng bá chủ hoàn cầu của khối trục
Tam quốc Đức Nhật Ý trong trận Thế giới Đại Chiến thứ hai.
Hoa Thịnh Đốn, ngày 10 tháng 6 năm 1999
Lê Bá Thông |